Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

Miếu Tràng - ngọc xanh đất cảng

(TTO) - Từ trên cao nhìn xuống, miếu Tràng (xóm 2, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) như một viên ngọc xanh ngọc bích. Đây còn gọi là miếu Cây Xanh bởi những hàng cây cổ thụ um tùm xanh rì ôm vào lòng ngôi miếu cổ kính.

Miếu Tràng nằm bên trục đường chính kẻ một đường thẳng tắp giữa lòng xã Cổ Am. Cổng chính uy nghiêm với bốn chữ Hán “Chính khí hạo nhiên”, đắp nổi lưỡng long chầu nguyệt. Hai đỉnh cột trụ đắp hình búp sen. Bước qua cổng rêu phong cổ kính, in hằn vết chân thời gian, ta như lạc vào một thế giới tâm linh. Bức tường vây tróc từng mảng vữa để lộ những viên gạch đã xỉn màu.

Chỉ vài bước chân mà dường như cách biệt hoàn toàn với nhịp sống xô bồ, vội vã, với tiếng còi xe inh ỏi, bụi đường mù mịt ngoài kia. Lòng ta yên bình, tĩnh lặng đến lạ. Đặc biệt, những vòm cây cổ thụ lọc cái nắng chao chát của ngày hè oi ả, đổ xuống bóng râm mát rượi như những mũi kim châm vào da thịt. Ta đắm chìm vào không gian u tịch như muốn được tan ra hòa vào từng thớ không khí ngọt mát vị quê hương!

Những gốc cây cổ thụ hàng trăm tuổi xù xì to đến mấy người ôm không xuể hiên ngang trước nắng mưa, dông tố bão bùng, chứng kiến bao thăng trầm lịch sử, chứng kiến bao xương máu của người dân làng Cổ đổ xuống trong cuộc chiến tranh giành độc lập tự do. Dạo bước trên con đường lát gạch vuông xám lạnh, xào xạc lá vàng rơi, thỉnh thoảng ta bắt gặp những hòn đá với hình thù kỳ dị hay tượng đá chó không đầu… Bờ tường hoa rêu mốc chạy hai đường thẳng song song dọc theo lối dẫn vào miếu bao quanh hồ bán nguyệt đậm nét hoang sơ, lững lờ trôi những cánh lục bình xanh biếc. Theo lời kể của ông Hoàng Đình Tíu, người trông coi miếu cổ kính này, đây là hồ nước thiêng, trong dịp lễ hội hằng năm, người ta thường lấy nước từ hồ để rước vào thờ cúng trong miếu.

Hiện nay, miếu Cây Xanh còn giữ được nguyên vẹn tổng thể kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Kiến trúc chính của miếu gồm hai tòa tiền đường, mỗi tòa năm gian, cấu trúc theo kiểu “trùng thềm điệp ốc” và một gian hậu cung luôn đóng kín bởi lớp cửa gỗ chạm thủng hình chữ “thọ” sơn son thếp vàng. Dẫn vào hai tòa tiền đường là hai lầu được xây nổi làm gác chuông, gác khánh. Mái lợp ngói vảy rồng, uốn cong bốn góc mềm mại, chạm trổ phượng long. Cửa gỗ lim theo lối “cửa tùng cung khách” quen thuộc trong kiến trúc dân gian của vùng Bắc bộ. Những nét điêu khắc, chạm trổ rất tinh tế, mềm mại. Hai bên tả hữu là hai dãy giải vũ năm gian đối xứng nhau qua sân tế, tạo thành khuôn viên khép kín với hai tòa tiền đường.

Sân miếu với những bức tượng đá linh vật như voi, rùa, hổ làm tăng thêm vẻ uy nghiêm, linh thiêng, sống động của khu di tích. Những bát hương lúc nào cũng đầy ắp chân nhang và nghi ngút khói bay vào mỗi dịp lễ tết. Miếu Tràng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1998. Ngôi miếu như một nét vẽ cổ kính, u tịch trên bức tranh văn hóa đất học Cổ Am. Miếu Tràng thờ nhiều danh nhân lớn như Tô Hiến Thành, Phạm Chấn, Tống Thái Hậu, Khổng Tử…

Miếu Tràng bảo tồn và lưu giữ được rất nhiều di vật quý giá, không chỉ có giá trị về văn hóa mà còn có giá trị về lịch sử.

Ngoài hương án kiểu chân quỳ dạ cá, hai bộ kiệu bát cống, nhiều cỗ ngai, bài vị, khám có niên đại vào cuối thế kỷ 19, tại miếu còn nhiều đồ tế khí bằng đồng, gốm, sứ như chấp kích, đỉnh, chiêng, 25 bản sắc phong của các vương triều phong kiến ban cho các vị thành hoàng cũng đang được gìn giữ, bảo quản cẩn thận, trong đó có 7 đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn phong Tô Hiến Thành là Thượng Đẳng Thần dưới các thời Thiệu Trị năm thứ 6, Tự Đức năm thứ 3 và 33, Đồng Khánh năm thứ 2, Thành Thái năm thứ 2, Duy Tân năm thứ 3, Khải Định năm thứ 7.

Hằng năm lễ hội miếu Tràng diễn ra vào mồng 7 tháng giêng (âm lịch). Phần lễ với nhiều nghi thức trang nghiêm như tế, rước nước, dâng hương… phần hội sinh động và phong phú mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian Bắc bộ với nhiều trò chơi truyền thống như chọi gà, bịt mắt đập niêu, kéo co…

Theo Đào Mạnh Long (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Độc đáo của Chùa Bốn mặt ở Sóc Trăng

(VTV ) - Nằm cách thành phố Sóc Trăng khoảng 6km, ngôi chùa Bốn mặt không những nổi bật về lối kiến trúc, nói đúng hơn là quần thể kiến trúc tôn giáo có giá trị văn hóa truyền thống đậm nét của người Khmer, mà nơi đây còn lưu giữ những câu chuyện linh thiêng kỳ bí.

Tuy mang vẻ đẹp bình yên như bất cứ vùng quê nào trên khắp nước Việt Nam, nhưng Sóc Trăng lại còn thu hút du khách bởi một vẻ đẹp kỳ lạ khác, bởi các ngôi chùa mang phong cách rất đặc biệt, là điển hình của sự giao thoa văn hóa của ba sắc tộc Kinh, Hoa và Khmer.

Các ngôi chùa của người Hoa thể hiện lối kiến trúc và nét đặc trưng văn hóa tín ngưỡng, mái chùa lợp ngói âm dương lưu ly, sơn tường chủ đạo màu đỏ… Chùa người Kinh thường khoác bên ngoài vẻ màu trầm tĩnh, bình dị như với ngụ ý “lánh đời vào đạo”, lối kiến trúc và các hoa văn được tiết chế, mang yếu tố nhẹ nhàng, thanh thoát của cỏ cây hoa lá, như bộ tứ quý mai lan thu cúc, hệ thống thờ tự gồm các vị Phật, hộ pháp… Còn hệ thống chùa mang đậm phong cách văn hóa người Khmer tại Sóc Trăng lại khác hẳn.

Chiếm đến 60% số lượng các ngôi chùa ở tỉnh Sóc Trăng, chùa của người Khmer là nhân tố nổi bật, thu hút mọi người khi đến tham quan nơi đây. So với sự trầm tĩnh của chùa người Kinh hay sự bó hẹp không gian của chùa người Hoa, chùa của người Khmer ở Sóc Trăng, nhìn từ xa toát lên một màu vàng sáng rỡ, trong một không gian rộng rãi, là nơi hội tụ của các công trình kiến trúc, hoa văn hình tượng và màu sắc nổi bật. Dường như các ngôi chùa này chưa bao giờ “nép mình” dưới cuộc sống của đô thị, của phum sóc (các cụm dân cư Khmer), mà luôn hiện diện như một vị thế trung tâm trong đời sống người dân.

Nằm cách thành phố Sóc Trăng khoảng 6km, ngôi chùa Bốn mặt không những nổi bật về lối kiến trúc, nói đúng hơn là quần thể kiến trúc tôn giáo có giá trị văn hóa truyền thống đậm nét của người Khmer, mà nơi đây còn lưu giữ những câu chuyện linh thiêng kỳ bí.

Đến với các ngôi chùa này, du khách đều bị thu hút tò mò, thậm chí có chút sợ hãi khi chiêm ngưỡng hình ảnh rắn 9 đầu đặt trên lối đi từ cổng vào chùa. Theo truyền thuyết, rắn Nagar có công che mưa cho đức Phật khi ngài ngồi thiền định. Còn trong quan niệm của người Khmer, rắn Nagar biểu trưng cho sự thịnh vượng, xua đi tà khí, dẫn đến cõi thiên đường, vì thế ở các công trình kiến trúc văn hóa Khmer, trên cầu thang, lối đi hay hành lang đều có tạc đầu rắn Nagar.

Từ cổng con đi vào trung tâm chính điện ngôi chùa, từng hàng cây thốt nốt xanh tươi tạo không gian tươi mát, thoáng đãng. Du khách tới đây sẽ có cơ hội gặp đoàn sư đi khất thực vì đây là một hoạt động sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống tu tập của họ.

Theo tài liệu ghi lại, Chùa Bốn mặt có lịch sử gần 500 năm, xây dựng trên diện tích 65.000 m2. Chùa đã trải qua ba lần trùng tu và gần đây nhất vào năm 2011, chùa được sơn màu vàng rực rỡ, sang trọng. Dù vậy, chùa vẫn giữ được kiến trúc nguyên thủy từ lúc ban đầu xây dựng cho đến ngày nay với kết cấu gạch, nước, cát, rơm và vôi. Vì thế, qua thời gian, những tầng mái ít nhiều đã có dấu hiệu rạn nứt.

Kết cấu mái của chùa được xây dựng theo dạng tam cấp, mái chồng lên mái có 3 lớp, lớp ngoài cùng lớn nhất, rồi đến lớp giữa và lớp trong cùng nhỏ dần và nhô lên cao, trung tâm là đỉnh gắn với tháp nhọn. Ở viền mái và các góc cạnh được trang trí và điêu khắc công phu các hình nét mô phỏng hình tượng rồng theo mô típ của loài cá Poonco.

Bên dưới tầng mái được chạm trổ công phu các hình tượng tiên nữ Keynor, mình chim có gương mặt phúc hậu mang yếu tố thẩm mỹ và các chim thần Krud, mình người có đầu, chân và hai cánh của chim. Chim thần Krud có miệng ngậm hồng ngọc, đứng bên dưới vị trí tiếp giáp của mái và các trụ cột, biểu trưng cho sức mạnh giơ tay nâng đỡ mái chùa.
Một điểm nữa khiến du khách rất dễ nhận diện chính là vị trí trên cao nhất, nổi bật nhất trên đỉnh của chùa là tháp với đầu tượng Phật 4 mặt, gọi là Maha Prum. Phải chăng đây chính là lý do khiến người dân nơi đây gọi chùa một cách đơn giản bình dị - Chùa Bốn mặt?

Theo quan niệm của người Khmer, đầu tượng Maha Prum tượng trưng cho đức Phật luôn quay nhìn về 4 hướng, Đông - Tây - Nam - Bắc và ở trên cao luôn quan sát để phổ độ chúng sinh. Vì thế, đến bất cứ ngôi chùa nào của người Khmer, chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy ở trên đỉnh cổng, đỉnh tháp hay đỉnh chùa đều dành vị trí trang trọng để đặt đầu tượng Phật 4 mặt. Từ trên cao nhìn xuống và ở bất cứ nơi đâu, người dân Khmer một lòng thuần tín tôn giáo, cảm giác yên tâm an lành vì có đức Phật quan sát che chở.

Theo VTV Online
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

Nơi duy nhất thờ 'Chúa Bói'

(VHBG) - Đền Nguyệt Hồ là một trong những di tích cổ gắn liền với truyền thống lịch sử văn hiến của quê hương Bắc Giang. Ngôi đền nằm ở vùng đất có nhiều di tích thuộc thượng lưu dòng sông Thương. Dọc ven dòng sông này có rất nhiều các điểm di tích thờ Mẫu nhưng được quan tâm và chú ý nhiều hơn là đền Nguyệt Hồ thuộc xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế.

Theo bề dày lịch sử, tín ngưỡng thờ Mẫu đền Nguyệt Hồ đã có nhiều lớp văn hóa tín ngưỡng của nhiều thời đại phủ lên. Song điều quan trọng hơn cả là từ lâu đời ngôi đền cổ này đã đi vào tâm linh tín ngưỡng dân gian gắn liền với truyền thuyết và lịch sử của dân tộc. Những năm gần đây, đền Nguỵêt Hồ là điểm nhấn tâm linh tín ngưỡng của đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Hàng năm, có tới hàng ngàn lượt khách từ khắp các tỉnh thành trong nước hành hương tìm về đền Bà Chúa Nguyệt Hồ để xin lộc, cầu tài, cầu bình an trong cuộc sống.

Theo truyền thuyết và tài liệu xưa ghi chép lại: “Đệ Nhị Nguyệt Hồ là bà Chúa Bói dưới thời Hùng Vương. Tương truyền rằng, chúa bà Nguyệt Hồ vốn là người thôn nữ ở đất Bắc Giang, từ nhỏ đã sống trong cảnh cơ hàn. Bà là người rất tốt bụng, thảo hiền, có lòng nhân hậu, vì vậy, Lão Tổ Quỷ Cốc Tử Tiên Sinh đã truyền dạy cho bà những đạo pháp của mình và đặt tên hiệu cho bà là Nguyệt Hồ (hay Huyết Hồ). Sau khi đã học được phép của Tiên Sinh, bà dành hết cuộc đời mình để làm phúc cho dân lành.

Chẳng bao lâu, danh tiếng đồn của Chúa Nguyệt Hồ đã lan tới kinh đô, đức vua bèn truyền chỉ, mời chúa về kinh đô, mỗi lần ra trận, vua đều cho người đến thỉnh cầu, nhờ chúa bà bấm đốt tay, xem lành dữ và hỏi chuyện quân cơ, mưu lược, bày binh bố trận”. Trong Tam Vị Chúa Mường thì bà chúa Nguyệt Hồ là bà chúa bói danh tiếng bậc nhất và rất hay ngự đồng. Khi ngự đồng, chúa mặc áo xanh, múa mồi. Đôi khi chúa ngự về còn dùng lá trầu quả cau để xem bói, phán bảo trần gian.

Theo thần tích và truyền thuyết ở vùng Bo (Yên Thế), sự tích chúa Nguyệt Hồ được ghi chép lại như sau: Cuối đời Hùng Duệ Vương quân Thục ồ ạt mang quân sang xâm chiếm giang sơn họ Hùng. Hùng Duệ Vương bèn hạ chiếu đi các nơi tìm người tài giỏi để giúp vua trừ giặc. Lúc bấy giờ ở vùng Bo (Yên Thế) có hai ông Cao, Quý ra ứng tuyển và được vua chọn đi dẹp giặp. Bái tạ ơn vua, hai ông kéo quân về vùng Bo (Yên Thế) ngày đêm luyện tập binh mã chờ thời cơ diệt giặc.

Khi quân Thục kéo sang, hai bên giao chiến ác liệt, thế giặc mạnh, quân ta yếu, hai ông Cao, Quý chỉ huy quân sĩ rút lui theo triền sông Thương rồi lựa thế đất hiểm trở quay lại giết giặc. Thuyền chiến dùng giằng chưa đi được vì các bà con gái lưu luyến yêu mến vùng đất này nên đã dời thuyền trở lại vùng Bo. Hai ông chỉ huy quân sĩ quay lại đánh giặc, bị bất ngờ phản công, quân Thục tự nhiên vỡ trận thua to, những kẻ tháo lui đều bị quân sĩ truy đuổi tiêu diệt hết. Thắng giặc hai ông trở về khao thưởng quân sĩ rồi hồi triều báo công với vua. Trước khi hồi triều hai ông phi thẳng ngựa đến khu Rừng Từ để nhìn bao quát vùng Bo một lần nữa rồi bỗng nhiên hóa tại đó. Phu nhân và con gái biết tin nhớ thương nên cũng tự hóa theo hôm đó vào ngày 15/2.

Sau khi đánh thắng quân Thục, nhà vua phong cho các danh tướng là Thượng Đẳng Phúc Thần và truyền cho các địa phương, nơi các danh tướng đánh giặc, xây dựng đền miếu để thờ phụng mãi mãi. Triều vua Lê Đại Hành có sắc phong cho các vị Thần ở vùng Bo là: “Cao Sơn Quý Minh đại đức hùng lược trác vĩ Đại Vương Thượng đẳng Thần”. Đến triều Nguyễn địa phương xây dựng miếu thờ ở Huyết Hồ, xin triều đình cho thờ nữ thần là Nguyệt Nga phu nhân và con gái của vị thần họ Cao. Triều vua Tự Đức năm thứ ba (1850) ban sắc phong cho Nguyệt Nga phu nhân và ban cho dân xã vùng Bo phụng thờ. Sau lại có sắc phong cho Nguyệt Nga công chúa. Đời vua Duy Tân năm thứ nhất (1907) cũng có sắc phong cho Nguyệt Nga phu nhân.

Đền bà chúa Nguyệt Hồ có lịch sử từ lâu đời, xưa ngôi đền có một cung đặt tượng thờ Nguyệt Nga công chúa và bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu, qua thời gian ngôi đền đã được nhân dân địa phương và các nhà hảo tâm công đức tu sửa tôn tạo nhiều lần thêm phần khang trang tố hảo. Quần thể di tích hiện nay gồm các hạng mục công trình: Cổng đền, khu sân đền, hồ Nguyệt, khu đền chính gồm tòa đại bái và hậu cung, kiến trúc theo lối cổ truyền thống.

Trong hậu cung đặt tượng Bà Chúa bản đền, chúa Nguyệt Hồ, tức Nguyệt Nga công chúa và bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu gồm hàng Thánh Mẫu tới hàng Quan, hàng Chầu, ông Hoàng, các Cô, Cậu và Đức Thánh Trần. Hai cung ngoài tòa đại bái cũng bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu. Như vậy, theo bề dày lịch sử, đền Nguyệt Hồ đã được phủ lên nhiều lớp tín ngưỡng, ngoài thờ “Bà chúa Nguyệt Hồ- Chúa Bói”, còn thờ “Tam tòa Thánh Mẫu”, thờ Cô, thờ Cậu, thờ Sơn Trang, thờ các ông Hoàng và đức Thánh Trần Triều... và từ lâu đền Nguyệt Hồ đã được phủ lên một lớp tín ngưỡng “thờ Mẫu”. Theo các nhà nghiên cứu thì tín ngưỡng thờ Mẫu vốn là tín ngưỡng của người Việt cổ có từ lâu đời và ngày càng phát triển.

Ngày lệ bà Chúa Nguyệt Hồ là ngày 15/2 âm lịch. Trong ngày lệ chính nhân dân vùng Bo rước kiệu từ đình Bố Hạ về đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Sau khi tế lễ tại đền Trung lại rước kiệu về đền Nguyệt Hồ. Tại đây phần tế lễ chúa Nguỵêt Hồ được tiến hành với những nghi lễ độc đáo như lễ dâng văn chúa Nguyệt Hồ. Bài văn cúng dâng chúa Nguyệt Hồ được thể hiện qua hình thức hát văn. Người được chọn diễn xướng hát văn phải có giọng hát hay, đàn giỏi, gia đình không có tang bụi. Trong nghi thức thờ Mẫu ở đền bà chúa Nguyệt Hồ còn có lệ hầu bóng được diễn ra trong các dịp đầu năm và trong ngày lễ hội. Khách về lễ Mẫu và hầu bóng chủ yếu là khách thập phương từ Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Nội....tụ hội về đây để được dâng văn hầu chúa Nguyệt Hồ.

Hội đền Nguyệt Hồ nằm trong không gian chung của tín ngưỡng thờ Mẫu theo tuyến hành lễ đền Nguyệt Hồ-đền Suối Mỡ-đền Bắc Lệ- đền Mỏ Ba-đền Thượng Đồng Đăng và cuối cùng xuôi về đền Bà chúa Kho-Bắc Ninh.

Theo Đồng Ngọc Dưỡng (Văn Hóa Bắc Giang)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh)

(ĐPNN) - Tổ đình Linh Sơn lại là nơi dừng chân trên bước đường du hóa của Bồ-tát Quảng Đức, trước khi Ngài vị Pháp thiêu thân để thức tỉnh lương tri nhân loại.

"Hơn hai thế kỷ sen thơm ngát
Trải mấy mươi đời Tố đạo… Thiêng
Pháp tứ nối dòng hương khói toả
Ngàn năm thanh sử xứ Trầm Hương!"

Tổ Đình Linh Sơn  tại Thôn Hiền Lương, xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Tổ khai sơn là Hòa Thượng Ðại Bửu (1740-1765), Pháp hiệu Kim Cang Ðại lão Tổ sư. Ngài nguyên quán tỉnh Quảng Nam băng ngàn vào Hiền Lương hoằng pháp. Năm Cảnh Hưng thứ 22, (1761) lập Chùa đúc chuông, tạo thành ngôi già lam tịnh địa.

Lúc đầu chùa an danh là Sa Long Tự. Năm Tự Ðức, thứ 21 (1867) chùa bị cháy. Sau khi xây cất lại, đổi tên là Linh Sơn Tự. Từ ấy đến nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Kiểu trúc cổ pháp, hoàn toàn Việt Nam. Mái ngói tường gạch. Chánh điện ba gian, phía đông phía tây có tăng phòng, tịnh thất. Cách thờ phụng đơn giản nhưng trang nghiêm, giống như các Chùa cổ ở miền Trung.

Vườn Chùa rộng rãi và có nhiều cây cổ thụ xanh um. Phía trước có tường vôi và cổng Tam quan cổ kính. Trước mặt Chùa có hồ sen sâu rộng mênh mông, có sông Hiền Lương quanh co. Và xa xa núi cao chập chờn. Phong cảnh đăng quang nhưng thanh tịnh hữu tình.

Trong vườn Chùa có ba cây cổ thụ: Một cây xoài và hai cây kén. Cây xoài ở trước chùa, cạnh ngỏ bước vô, đến nay không còn. Cây kén cổ nhất đứng phía sau chùa. Thân cây cao vút và tuồi chắc là 300 trở lên và một cây kén phía bên tay phải chùa. Chính Ngài Ðại Bửu ngồi tu nơi gốc cây kén cổ thụ sau chùa, trước khi chùa thành lập. Hiền Lương trước kia là một cánh rừng rậm, có nhiều dã thú. Lúc Ngài Ðại Bửu đến tu thì cây kén đã là một đại thọ. Khi phá rừng dựng chùa các đệ tử giữ hai cây kén lại làm kỹ niệm.

Truyền rằng khi Hòa thượng ngồi tu dưới gốc cây kén,  có một con hổ đến sinh nở bên cạnh một cách tự nhiên. Hòa thượng ngồi  tự tại.

Bác sĩ Yersin khi đì tìm Ðà Lạt, gặp một con rắn hổ mang cất cổ toan làm dữ. Bác sĩ đứng yên. Hồi lâu rắn bỏ chạy. Người ta ngỡ rằng Bác sĩ có thuật thôi miên. Nhưng Bác sĩ cho biết: Thú dữ cắn người, trước hết là để tự vệ. Nhưng chúng đều có tánh linh và rất nhạy cảm. Một khi chúng đã thông cảm rằng mình không có ác tâm, không cố ý làm hại chúng, thì chúng có cần làm hại mình làm chi.

Trong trường hợp của Ngài Ðại Bửu cũng thế. Từ thiện căn lực của Ngài tỏa ra khi thiền định, khiến con hổ yên tâm lo nhiệm vụ của mình. Các vị chân tu sống bình yên trên núi cao đếu nhờ sức mạnh của đức từ bi, chớ không phải nhờ phép thần thông chế ngự thú dữ. Nhưng người đời không rõ, tưởng Ngài Ðại Bửu có phép lạ, nên đến xin quy y mỗi ngày một đông.

Hồng chung trong chùa cũng là một vật duy trì đức tin của bổn đạo. Nguyên thời nhà Nguyễn Gia Miêu cùng nhà Tây Sơn tranh hùng, các chuông chùa đều bị tịch thu để đúc súng đạn. Ðể cho chuông khỏi “phạm giới sát sanh”, nhiều chùa ở Khánh Hòa đem giấu nơi vực sâu hố thẳm. Nhưng đến khi yên giặc giã, thì phần nhiều không tìm lại được, bởi lớp bị kẻ gian lấy trộm, lớp bị nước lụt trôi. Hồng chung chùa Linh Sơn tìm lại được cho do một sự tình cờ đượm vẽ huyền bí:

- Một bà lão đi mò ốc phát kiến tại cửa sông Hiền Lương, sợ quá tri hô lên. Cửa sông Hiền Lương vốn nằm giữa làng Hiền Lương và Tân Ðức. Biết hồng chung là vật xưa quý giá, làng Hiền Lương và làng Tân Ðức tranh nhau chiếm hữu, việc phải đưa đến cửa quan. Quan xử:
-Làng nào có chùa, chuông về làng ấy.

Hiền Lương có Chùa Linh Sơn, Tân Ðức không có chùa, nên Hiền Lương được kiện. Làng khiên chuông về đem đến cúng chùa Linh Sơn. Lại thêm nơi thành hồng chung có ghi rõ năm tháng chú tạo: “Cảnh Hưng nhị thập nhị niên, Tân Tỵ, bát nguyệt” đúng vào năm Tổ Ðại Bửu khai sơn. Nên ai nấy đều mừng “Châu về hợp phố”. Quả chuông tìm lại được đó là quả chuông thuộc hạng “Tiểu hồng chung”. Chùa còn một đại hồng chung không biết còn vùi lấp nơi đâu hay đã hóa kiếp. Những đêm trời trong gió lặng người quanh vùng thỉnh thoảng nghe tiếng chuông ngân nơi hồ sen trước chùa. Nhiều người tin chắc rằng quả đại hồng chung còn ẩn náu trong hồ, và sẽ trở về chùa một ngày nào đó.

Tổ đình Linh Sơn có tiếng linh thiêng. Việc  hồng chung trở về chùa làm cho các tín đồ thêm vững lòng tin mộ đạo. Lại một sự kiện nữa xảy ra thời tiền chiến, khiến người kém đức tin cũng phải tin rằng chùa linh thiêng thật sự. Lúc bấy giờ Nhật đóng quân khắp lãnh thổ Việt Nam. Máy bay Mỹ ngày nào cũng đến oanh tạc. Khánh Hòa cũng không thoát khỏi nạn bom rơi.

Năm 1944, một quả bom hạng nặng rơi ngay trên nóc Chùa. Nhưng không nổ và cũng không lăn xuống đất. Ai cũng thấy làm lạ. Vì quả bom này nếu nổ thì Chùa bị tan tành, không nổ thì sức nặng cũng đủ chọc thủng nóc chùa hoặc lăn theo mái chùa để xuống đất bằng cho hợp lý. Sao lại nằm trên nóc, mà bốn bên không có vật gì cản ngăn? Người Nhật nghe tin bom nằm trên nóc chùa thì đến mang đi, không một lời giải thích. Các ông già bà cả bảo rằng: Các vị thần giữ chùa làm cho quả bom tắt ngòi. Rồi để cho người đời tin sự linh thiêng, các Ngài đem bom đặt trên nóc chùa và giữ không cho rơi xuống đất. Người đã tin thêm tin, người không tin không biết sao mà cãi.

Hai trăm năm sau, Tổ đình Linh Sơn lại là nơi dừng chân trên bước đường du hóa của Bồ-tát Quảng Đức, trước khi Ngài vị Pháp thiêu thân để thức tỉnh lương tri nhân loại; giữa lúc miền Nam sôi sục khí thế phục hưng chánh giáo, nhờ sự hy sinh cao cả ấy mà lịch sử Đạo pháp có bước chuyển biến đi lên, thoát khỏi cảnh trăm năm bị áp bức. Trước đó, Ngài đã phó chúc cho pháp đệ là Hoà thượng Thích TÂM THANH pháp hiệu TỊCH TRÀNG, lo việc tái thiết ngôi đạo tràng và chấn hưng Phật giáo. Hiện nay, pháp tử là Hòa thượng Thích THIỆN DƯƠNG phát tâm đại trùng tu, xây dựng lại toàn cảnh chánh điện, hậu Tổ, nhà lưu niệm, vườn chùa, cổng tam quan, một công trình qui mô, phạm vũ huy hoảng, xứng tầm là tòng lâm ớ xứ Trầm Hương.

Theo Đạo Phật Ngày Nay
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Chùa Kim Liên - Hà Nội

Chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Chùa được xây dựng từ thế kỷ 13 với kiến trúc độc đáo Chùa thờ Phật và công chúa Từ Hoa.

< Cổng tam quan chùa.

Vào thời Lý, vua Lý Thần Tông (1128-1138) cho lập ở vị trí này một cung điện mang tên cung Từ Hoa để công chúa Từ Hoa cùng các cung nữ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải nằm bên trong khu vực có tên là Trại Tằm Tang. Vào đời Trần (1225 – 1413), trên nền cũ của cung Từ Hoa dựng lên một ngôi chùa; trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên và chùa được mang tên Đống Long. Năm 1639, dưới triều vua Lê Thần Tông, chùa được tu sửa lại là Chùa Đại Bi.

Năm 1771 đời Lê Cảnh Hưng chùa được trùng tu, sửa chữa lớn và mang tên Kim Liên Tự (chùa Kim Liên). Năm 1792 - 1793, đời vua Quang Trung, chùa được xây dựng lớn, về diện mạo cơ bản giống như hiện nay.

Kiến trúc của chùa Kim Liên mang dáng vẻ cung đình. Toàn bộ cổng chùa được làm bằng gỗ, khá đồ sộ và chạm khắc công phu. Các hoa văn được khắc trên vì kèo, đầu cột, đầu mái chùa, chủ yếu là hình hổ phù, lá và hoa sen, hình rồng cách điệu, mây vờn...  Đây là lối kiến trúc có từ thế kỷ 17 trở về trước và chỉ phổ biến ở Đàng Trong.

Bố cục của chùa bao gồm một trục đối xứng từ tam quan đến nhà Tổ. Tam quan với toàn bộ kết cấu có mái che được đỡ từ các thân cột. Từ giữa các thân cột, những con rường vươn dài tạo nên bộ vì nóc đỡ mái. Cổng tam quan của Chùa Kim Liên là một kiến trúc độc đáo với hai tầng, 8 mái bằng gỗ mang màu sắc cung đình, với những bức chạm nổi trên mặt gỗ hình rồng hoa văn cực kỳ tinh xảo. Bộ mái lợp ngói vảy cá nhiều tầng, ở giữa đột ngột vươn cao như bông sen tỏa nở trên mặt nước Tây Hồ.

Từ xa nhìn lại tam quan của chùa Kim Liên toát lên một vẻ đẹp kiêu hãnh, vừa trang nghiêm, vừa lộng lẫy, lại hòa nhập vào cây xanh, nước biếc xung quanh. Phía trong tam quan có đặt 2 tấm bia đá. Từ tam quan đi vào một khoảng sân dẫn vào ba nếp chùa xếp song song theo hình chữ "tam" (三), thứ tự từ chùa Hạ, chùa Trung quay mặt về hướng tây đến chùa Thượng quay mặt về hướng đông.

Chùa Hạ là một ngôi nhà với 5 gian, 6 hàng cột, 2 tầng, 8 mái. Trên bờ nóc được trang trí hình đầu rồng. Hai bên đầu hồi được trổ cửa sổ tròn theo chữ nhà phật sắc sắc – không không. Bộ khung nhà chạm trổ các hình hoa sen, lá, mây, rồng theo phong cách thời Lê Trung Hưng.

Chùa Trung có 1 gian, 2 chái cao hơn chùa Hạ nhưng hẹp hơn. Chùa Trung có 2 tầng, 8 mái và được nối với chùa Hạ bằng một đường ống máng chung. Chùa Thượng có kích thước và trang trí như chùa Hạ và cũng được nối với chùa Trung bằng một đường ống máng chung. Phía sau chùa Thượng là nhà thờ Tổ được trang trí đơn giản hơn các chùa.

Tại chùa Kim Liên còn giữ được nhiều pho tượng đẹp bao gồm tượng phật, tượng Bồ Tát, công chúa Từ Hoa. Cùng với hệ thống tượng quý, chùa Kim Liên còn lưu giữ được một tấm bia cổ niên hiệu Thái Hòa tam niên Ất Sửu - tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông. Đây là tấm bia cổ nhất ở Hà Nội hiện nay.
Chùa Kim Liên là một trong 12 di tích đã được Bộ văn hoá Thể thao Du lịch công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia đợt đầu tiên ở Hà Nội năm 1962.

Theo Trung tâm Thông tin du lịch
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Chùa có nhiều tượng cổ nhất VN

(VNE) - Trải qua nhiều trận lụt trong lịch sử, những bức tượng đất cổ ở chùa Nôm, tỉnh Hưng Yên vẫn còn nguyên vẹn và giữ được tất cả lớp sơn son thiếp vàng. 

< Cổng Tam quan chùa Nôm.

Cách Hà Nội 30 km về hướng đông, chùa Nôm thuộc quần thể di tích làng Nôm, thuộc xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, là ngôi đại tự có tiếng của phố Hiến còn lưu giữ được nhiều nét cổ.
Theo truyền thuyết xưa, chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ, có lẽ vì vậy mà chùa còn có tên gọi khác là Linh thông cổ tự. Không còn ai nhớ chính xác sự ra đời của ngôi chùa, chỉ biết rằng trên hai tấm bia lớn còn lưu lại tại đây thì chùa đã được xây dựng lại vào năm 1680 và được trùng tu nhiều lần sau đó.

Ngay từ khi bước vào cổng làng Nôm, du khách sẽ ấn tượng với cảnh quan cổ xưa với những nếp nhà xưa cũ, mái đình rêu phong, giếng nước, cây đa… Theo phong tục của làng, mỗi khi khách lạ tới chơi thường ghé qua đình Tam Giang thắp nén hương trầm để cầu may mắn. Sau đó bước qua 9 nhịp cầu trên phiến đá xanh hơn 200 năm tuổi bắc qua sông Nguyệt Đức, để đến ngôi chùa cổ linh thiêng. Tham quan chùa Nôm, du khách không khỏi ngỡ ngàng với không gian xanh, yên bình và thả hồn mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ bí của những pho tượng cổ linh thiêng.

Thuộc thiền phái Lâm Tế, chùa Nôm sở hữu 122 pho tượng phật lớn nhỏ làm bằng đất, nằm rải rác khắp nơi với những kích cỡ lớn nhỏ khác nhau, mô tả con đường trưởng thành của đức Phật. Các bức tượng ở đây được khắc họa với những cử chỉ, nét biểu cảm trên khuôn mặt vô cùng sinh động, bao gồm Tam Thánh, Tam Thế, A Di Đà, Bát bộ Kim cương, Thập bát La hán... Có những pho tượng cao trên 3m nhưng đôi khi chỉ to bằng nắm tay. Theo đánh giá của các nhà khoa học, với những nếp nhăn trên áo và một số đặc trưng khác trong tạo tác, những bức tượng ở đây tiêu biểu cho nghệ thuật khắc tượng thế kỷ 18.

Trải qua các trận lụt lịch sử, nhiều nơi trong vùng bị lũ nhấn chìm, thậm chí nóc chùa bị nước cuốn trôi, nhưng kỳ lạ thay khi nước rút, các pho tượng Phật bằng đất bị ngâm nước lâu ngày vẫn không hề bị mục nát, sừng sững hiên ngang như thách thức sự hà khắc của thiên nhiên.

Lý giải cho sức sống lâu bền của các pho tượng Phật, một số phân tích của các nhà nghiên cứu cho rằng, đó chính là do trình độ tạo tác điêu luyện của các nghệ nhân thời đó, từ khâu dựng cốt, đắp đất, cho đến sự tỉ mỉ, chau chuốt trong việc phủ các lớp sơn dày.

Du khách có thể thấy được vẻ đẹp hài hòa, phong thủy của chùa Nôm khi đi dạo vãn cảnh chùa, với tháp chuông, lầu trống soi mình trong hồ nước, những tán cây cổ thụ rợp bóng mát. Xuyên qua con đường nhỏ phía hiên chùa, vườn mộ tháp bằng đá ong vàng óng trong nắng sớm. Những tháp đá tuyệt đẹp và nguyên vẹn với niên đại hàng trăm năm tuổi.

Với độ sâu thẳm về tâm linh cùng cảnh quan thiên nhiên đẹp, gợi những gì thuộc về quá khứ xa xưa, chùa Nôm là điểm đến dành cho những ai yêu thích vẻ đẹp xưa cũ. Du lịch đến chùa Nôm, du khách còn có thể khám phá, thưởng ngoạn những nét văn hoá cổ xưa của làng Nôm, một trong những ngôi làng cổ Việt Nam còn được gìn giữ đến ngày nay.

Thông tin thêm:

- Đường đi: Xe buýt đi Hưng Yên xuất phát từ bến xe Lương Yên, hoạt động từ 5h – 22h với tần suất là 20 phút/ chuyến, giá vé là 10.000 đồng. Nếu lựa chọn xe máy, các bạn có thể theo quốc lộ 5, đường 39 hoặc cao tốc Pháp Vân – Yên Lệnh để đến đây.
- Một số điểm có thể tham quan thêm: Khu di tích Đền Ủng, làng nghề làm hương xạ Cao Thôn, làng nghề chạm bạc Phù Ủng, hoặc ghé thăm phố Hiến với cây nhãn tổ và chùa Chuông.
- Đặc sản nên thử: Bún thang, canh cá rô, bánh bẻng, ếch Phương Tường, gà Đông Tảo (Đông Cảo)…
- Quà mang về: Tương bần, bánh răng bừa, mật ong, long nhãn…

Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều bát

(TBKTSG) - Tiền quân Thống chế Điều bát tên thật là Thạch Duồng, quê ở làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Do có công với triều Nguyễn nên ông được ban quốc tính - họ Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Tồn. Ông được nhân dân Trà Ôn tôn kính như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi vùng đất Trà Ôn.

< Cổng vào lăng Ông.

Tiền quân có tướng mạo khôi ngô, võ nghệ cao cường, tính tình cương trực, ông được Nguyễn vương phong chức cho trấn thủ ở Oai Viễn đồn (Trà Ôn) và đạo Trấn Giang (Cần Thơ) kiêm quản xuất hai phủ Trà Vinh và Mân Thít. Binh đoàn của ông chiến đấu dũng mãnh, xuất sắc. Khi xứ Cao Miên có nội chiến (1810), quân Xiêm xâm lấn bờ cõi, ông phụng mệnh triều đình theo đại quân Thoại Ngọc Hầu sang chiến đấu với quân Xiêm ở thành Lavek.

Sau khi thắng trận, uy danh vang lừng, ông được cử ở lại trấn thủ Nam Vang thành với trọng trách bảo hộ xứ Cao Miên. Sau một thời gian, ông được trở về quê hương Trà Ôn, Cầu Kè trấn thủ. Ông cùng dân binh dốc sức khai hoang mở đất. Năm 1819 ông đưa dân binh lên hiệp lực cùng Thoại Ngọc Hầu đào kinh Vĩnh Tế dài trên 100 cây số, có vị thế chiến lược về kinh tế và quân sự ở biên giới Tây Nam đất nước.

Năm 1820 (Canh Thìn), mùng 4 tháng Giêng, Tiền quân Nguyễn Văn Tồn mất ở nơi trấn thủ Trà Ôn. Dân chúng hết lòng thương tiếc một vị trung thần nghĩa dũng, triều đình Huế phái đại thần mang phẩm vật vào làm lễ điếu tế với nghi thức long trọng trong ba ngày. Ông được sắc phong Thành Hoàng Bổn Cảnh Trung Dũng Thiên Trực.

Chính vì có công với vùng đất Trà Ôn nên khi ông mất, người dân ở đây xây lăng để thờ cúng ông. Hiện nay lăng và mộ phần của ông cùng phu nhân được an vị tại ấp giồng Thanh Bạch, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Tổng diện tích khu lăng mộ ông là 8.000 mét vuông, gồm nhiều hạng mục, công trình với hoa văn và kiến trúc đẹp mắt. Xung quanh khu vực lăng mộ có nhiều cây xanh, hoa kiểng, tỏa che bóng mát cho lăng mộ cũng như cho khách hành hương chiêm bái.

< Phần mộ của Tiền quân Thống chế Điều bát (bên phải) và phu nhân.

Lăng mộ ông được xây dựng hết sức trang nghiêm và cổ kính. Bên ngoài là một cổng cao, lớn, được trang trí rực rỡ với nhiều màu sắc và đôi câu đối trên hai cột trụ cổng. Trên mái nóc cổng có tượng lưỡng long tranh châu. Từ cổng vào này đi vào khoảng 10 mét chúng ta lại bắt gặp một cánh cổng nữa. Cổng này cũng cao lớn, được trang trí đẹp mắt. Phía sau cổng thứ hai này là một khoảng sân khá rộng, được tráng xi măng nên rất sạch sẽ, xung quanh có nhiều hoa kiểng như tô điểm thêm cho phần lăng mộ Tiền quân được trang nghiêm hơn. Nối liền với khoảng sân rộng này chính là lăng Ông. Phía trước lăng có một bức bình phong được trang trí hình hoa sen, điểu, với nhiều màu sắc và những họa tiết trang nhã. Sau bức bình phong là nhà khách sạch sẽ, thoáng mát, dùng cho du khách nghỉ chân trước khi vào viếng lăng.

Lăng ông hiện nay được chia làm ba ngôi chính. Chính giữa là chính điện, bên phải là nhà khói và bên trái là nhà võ ca. Chính điện được chia ra nhiều gian thờ. Gian phía trước là bàn thờ của phó soái Nguyễn An, thủ lĩnh nghĩa binh kháng Pháp, hi sinh ở Trà Ôn năm 1872. Gian giữa là bàn thờ Hội đồng. Gian trong cùng là gian thờ Tiền quân thống chế điều bát. Gian này lại được chia làm ba gian. Gian giữa thờ ông Tiền quân; gian bên phải (nhìn từ ngoài vào) thờ phu nhân ông; gian bên trái thờ các vị Tiền hiền.

Trước gian thờ này là hai hàng bát bửu hai bên. Xung quanh còn được trang trí rất nhiều hoa văn họa tiết, võng, lọng với nhiều màu sắc rực rỡ, hết sức trang nghiêm. Đặc biệt gian chính điện có rất nhiều câu đối ca ngợi công đức ông và cũng là để tô điểm cho lăng ông thêm phần lộng lẫy hơn. Tất cả các công trình kiến trúc này đều được làm từ các danh mộc, mái lợp ngói hình vảy cá. Cho đến này khu lăng mộ này đã trải qua 5 lần trùng tu, đó là vào các năm 1937, 1953, 1960, 1994 và gần đây nhất là năm 2005.

< Bàn thờ Tiền quân Thống chế điều bát.

Mộ phần của ông và phu nhân được xây và đặt phía sau lăng. Xung quanh mộ có tường bao bọc, tường hoa, bình phong, trụ liễu... được trang trí hình hoa lá, giao long và có cặp kỳ lân đứng chầu. Trên rặng liễu có câu đối ngắn, thể hiện được đức độ của ông: Hoa di cộng hưởng / Mân Quảng đồng tri ân. (Nghĩa là: Người Hoa, người Khmer đồng ngưỡng mộ / Người Phúc Kiến, người Quảng Đông đều nhớ ơn).

Hằng năm, cứ vào các ngày mùng 3, mùng 4 tháng Giêng (âm lịch), nhân dân Trà Ôn tổ chức lễ giỗ ông hết sức trang nghiêm và long trọng theo nghi thức truyền thống. Trong các ngày này, hàng ngàn người từ các nơi như Trà Ôn, Cầu Kè, Trà Vinh, Sóc Trăng... về tham dự lễ giỗ ông. Bên cạnh các nghi lễ cúng tế, ban trị sự lăng còn tổ chức múa lân, múa rồng, hát bội, trình diễn nhạc ngũ âm, tổ chức các trò chơi dân gian thu hút được nhiều người tham gia, tạo cho không khí lễ hội thêm phần long trọng và hấp dẫn.

Vì lẽ đó, khi đến Trà Ôn, chúng ta sẽ dễ dàng nghe được câu ca dao:

Lịch thay cuộc địa Trà Ôn
Miếu Ông Điều Bát lưu tồn đến nay
Đất giồng Thanh Bạch xưa kia
Có đền Ông lớn với bia lưu truyền.

Do quần thể lăng ông có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, nên ngày 13 tháng 2 năm 1996, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định công nhận lăng ông là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Du khách muốn đến viếng lăng, có thể đi theo tỉnh lộ 37, từ Châu Thành - Trà Ôn đi Cầu Kè - Trà Vinh khoảng 2km về phía tay phải là đến lăng mộ ông dễ dàng.

Theo Trần Kiều Quang (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc (Phú Quốc)

Nằm trên sườn núi hướng ra biển ở phía cuối của một con đường uốn khúc qua các triền núi của đảo Phú Quốc, Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc có thể coi là một trong những ngôi chùa có địa thế đẹp nhất Việt Nam.

< Cổng tam quan Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc – Chùa Hộ Quốc.

Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc được khánh thành vào ngày 14.12.2012, tọa lạc tại ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ (H.Phú Quốc, Kiên Giang). Đây là ngôi chùa mới xây dựng có quy mô lớn nhất ở ĐBSCL, theo lối kiến trúc thời nhà Lý và nhà Trần.

< Khánh thành năm 2012, đây là ngôi chùa mới xây dựng có quy mô lớn nhất của các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Chùa được xây theo kiến trúc thời nhà Lý và nhà Trần với tháp chuông, tháp trống, ngôi Đại hùng bảo điện và nhà Tổ.

< Không gian bên trong chính điện của chùa.

Các công trình làm bằng gỗ liêm và đá nguyên thủy có giá trị sử dụng từ 700 - 1.000 năm , các chi tiết kiến trúc được chạm khắc rất công phu. Riêng vùng biển phía trước Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc vẫn còn rất hoang sơ, hầu như không có dấu ấn của con người.

< Từ chính điện có thể ngắm nhìn khoảng không gian bao la của biển trời Phú Quốc.

Với khung cảnh hoang sơ, yên tĩnh: Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc là điểm dừng chân lý tưởng của du khách mỗi khi có dịp đến tham quan đảo ngọc.

Mặc dù hiện nay, việc xây dựng các công trình phụ - trang trí... vẫn chưa hoàn thành đủ nhưng do có phong cảnh đẹp và khí hậu mát mẻ nên hằng ngày nơi đây thu hút được rất nhiều du khách cùng các tăng ni, phật tử đến tham quan và lễ Phật. Người dân địa phương và du khách thường đến đây dâng hương trong các dịp lễ tết và thư giãn tĩnh tâm sau những giờ phút lao động căng thẳng.

< Quang cảnh đường lên chùa với bên núi, bên biển rất đẹp.

Sau khi xây dựng hoàn thành con đường dẫn vào, thiền viện sẽ kết hợp với Khu du lịch sinh thái - văn hóa Phú Quốc tạo nên một khung cảnh thiên nhiên đặc sắc đầy vẻ tôn nghiêm và thanh tịnh, thu hút khách thập phương quanh năm ghé đến để chiêm bái thưởng ngoạn, góp phần vào sự phát triển du lịch của đảo Phú Quốc và cả nước.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Chùa Ba Vàng ở Uông Bí

(PetroTimes) - Từ ngày 9/3/2014, chùa Ba Vàng, tọa lạc trên núi Ba Vàng, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã chính thức làm lễ khánh thành. Ngôi chùa có tòa chính điện lớn nhất Việt Nam này cũng điểm du lịch tâm linh hấp dẫn du khách thập phương.

Chùa Ba Vàng có tên chữ là Bảo Quang Tự. Theo tử điển Hán Việt: “Bảo” có nghĩa là vật quý hay bảo bối. “Quang” có nghĩa là ánh sáng. Bảo Quang Tự là chùa có ánh sáng quý.

Ngôi chùa tọa lạc trên núi Thành Đẳng, thuộc xã Thượng Mộ Công, Bí Giàng, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên; nay thuộc địa phận tổ 17B, khu 5 phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Núi Thành Đẳng bắt nguồn từ dãy núi Yên Tử, thế núi đương chạy theo hướng Bắc – Nam, nhưng khi về đến Uông Bí chuyển hướng Đông – Tây và hạ thành tam cấp: đỉnh 550m, hạ đoạn 340m và 200m (so với mặt nước biển). Ngôi chùa được xây dựng tại hạ đoạn cấp 3 (200m). Thành Đẳng Sơn, tên nôm là Ba Vàng.

Vào thời Trần (thế kỷ thứ 13), vua Trần Nhân Tông rời bỏ cung vàng điện ngọc về non xanh Yên Tử tu hành, là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một dòng thiền Việt Nam. Chùa Ba Vàng là sơn môn thuộc Trúc Lâm Yên Tử. Từ thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ 21, qua 800 năm, chùa Ba Vàng đã qua 1 lần khai sơn lập tự và 4 lần trùng tu.

Căn cứ vào khảo cổ khai quật được từ lòng đất tại nền chùa những viên ngói đất nung hình lòng máng màu phớt hồng, kích thước 30x15cm. Mũi ngói giống mũi của chiếc hài. Những viên gạch đất nung lát nền có kích thước 40x40cm. Toàn bộ viên gạch được trang trí một bông hoa bốn cánh (một loại hoa văn đời Trần). Tất cả các viên ngói, viên gạch, mảnh sành tìm thấy đều mang nét văn hóa đời Trần. Chứng tỏ vào đời Trần, nơi đây đã từng tồn tại một ngôi chùa, nhưng không rõ lý lịch cụ thể về Sư tổ và ngôi chùa.

Cuộc nội chiến Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn phân tranh khiến nhân dân khủng hoảng niềm tin với nhà nước phong kiến, họ khao khát đón nhận trở lại ánh từ quang Phật giáo. Nhưng nhà cầm quyền phong kiến đã đề cao đạo Lão, đạo Khổng, ít chú ý đến đạo Phật. Chính lúc này, Đại Thiền sư Tuệ Bích đã xây dựng nên Bảo Quang Tự (1706) như thắp sáng niềm tin, nối lại dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử sau 300 năm gián đoạn. Song do thời gian và các cuộc chiến tranh tàn phá, ngôi chùa đã lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại rừng cây bao phủ.

Năm 1987, một lão nông địa phương đã phát hiện ra những phế tích còn lại của ngôi chùa. Các nhà nghiên cứu, khảo cổ đã vào cuộc và thu thập được những hiện vật lịch sử có giá trị như: Cây hương đá (thiên đài trụ) được tạc bằng đá nguyên khối. Cây hương hình chữ nhật với kích thước cao 1m45, rộng 0.29m, dày 0.25m. Trên đỉnh cây hương là hình bát sen; Bia đá được làm vào thời Lê Dụ Tông (1706); kích thước 0.70m, rộng 0.45m, dày 0.14m dựng trên đế rùa cao 0.40m, dày 0.94m, rộng 0.70m. Đây là lần trùng tu thứ hai. Sau khi xác định đây là ngôi chùa mang dấu ấn lịch sử đời Trần, Thị ủy, UBND, HĐND thị xã Uông Bí thể theo nguyện vọng của nhân dân (1988) đã cho phép trùng tu lại bằng gỗ (lần trùng tu thứ 3).

Sau 5 năm (1993), ngôi chùa bị xuống cấp nặng nề. Ban tôn tạo đã trùng tu lại bằng gạch ngói, xi măng. Với diện tích 55m2 gồm ba gian tiền đường, cửa vòm, một gian tự điện; hai bên cửa giữa đắp nổi câu đối bằng chữ Hán:

Thành Đẳng Sơn thắng cảnh vạn đại lưu danh,
Bảo Quang Tự thiền môn thiên thu hương hỏa.

Chính giữa tiền đường treo bảo cái bằng vải. Bên trái tiền đường (ngoại hiên) treo một quả chuông nặng 20kg. Ban thờ chính hướng Nam ghé Tây gồm 4 cấp: cấp cao nhất 2m20, cấp thấp nhất 1m: Cấp 1 thờ Tam Thế Phật; Cấp 2 thờ Di Đà Tam Tôn; Cấp 3 thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu; Cấp 4 thờ tòa Cửu long.

Nhà Mẫu kề cạnh Thượng Điện theo hướng Nam, diện tích 8.32m2 (nhà cấp 4); Miếu Sơn Thần 11m65; Giếng Thần sâu 2.50m, đường kính 1.78m, mức nước 1m. Các công trình khác: nhà ở, trai đường lợp bằng ngói xi măng, xung quanh bao bằng cót ép rộng khoản 20m2. Tổng diện tích công trình: 94.97m2. Đây là lần trùng tu thứ 3.
Do chưa có sư Trụ trì nên Bảo Quang Tự chỉ dừng lại: đường lên chùa là lối mòn rậm rạp, điện thắp sáng và nước sinh hoạt đều không có. Tất cả các công trình nhà cấp bốn qua 14 năm đã bị dột nát và hư hỏng.

Là ngôi chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử của tỉnh Quảng Ninh, là truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lại có diện tích đất 123.81ha, là khu sinh thái sơn thủy hữu tình có “rồng chầu, hổ phục”, chẳng lẽ lại để Bảo Quang Tự trở thành phế tích? Đó là sự trăn trở của chính quyền, mặt trận, nhân nhân Uông Bí.

Tới năm 2007, Đại đức Thích Trúc Thái Minh – nguyên là trưởng ban Tri khách Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử đã về trụ trì chùa Ba Vàng. Đại đức cùng các đệ tử, du khách thập phương đóng góp công sức tiến hành trùng tu ngôi chùa lần thứ tư với quy mô hiện đại và được công nhận kỷ lục là ngôi chùa có tòa chính điện lớn nhất Việt Nam.

Với những giá trị về lịch sử, tâm linh, chùa Ba Vàng đang trở thành một điểm đến hấp dẫn của du lịch tâm linh tại Việt Nam và là địa chỉ hành hương tin cậy của đông đảo tăng ni, phật tử khắp mọi miền tổ quốc.

Theo Khải Đăng (Báo Petrotimes.vn)
Du lịch, GO!