(VNE) - Người xứ Đoài (Sơn Tây, Hà Nội) có nhiều món ăn đặc sắc như bánh tẻ, nem Phùng, Gà Mía mang hương vị riêng biệt.
Thưởng thức những món ăn đậm chất dân dã, thôn quê để cảm nhận được văn hóa ẩm thực của một vùng quê Bắc Bộ.
Bánh tẻ Sơn Tây
Với cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, xứ Đoài luôn hấp dẫn du khách bởi làng cổ Đường Lâm nổi tiếng, ngoài ra nơi đây còn có một món ăn dân dã đặc biệt mà bạn nên thưởng thức. Người dân quê hồn hậu, chất phác ở đây thường có món bánh tẻ thay vì bánh chưng, bánh dày, xôi trong mâm cỗ. Chiếc bánh tẻ nhỏ xinh, dài dài bên trong có nhân thịt băm nhỏ, được trộn cùng với mộc nhĩ, ăn hoài không biết chán luôn được khách thập phương mua làm quà mỗi khi đến vùng đất này.
Thường gạo để làm bánh tẻ phải là gạo ngon, trắng, dẻo và thơm được ngâm kỹ và thay nước nhiều lần. Sau khi ngâm, gạo được xay nhuyễn để nước bột có màu trắng tinh. Bột để nước ráo cho đủ độ, được đem vào nồi sơ quánh lại cho sền sệt rồi mới đem ra gói, để bánh có độ dẻo mà vẫn giòn.
Công đoạn làm nhân bánh đơn giản nhưng cũng đòi hỏi sự khéo tay, nêm nếm gia vị sao cho vừa đủ. Thịt nửa nạc nửa mỡ được băm nhỏ, mộc nhĩ đen thái chỉ rồi đem xào sơ qua cùng với hành cho thơm, cho ngấm gia vị rồi mới đem gói. Lá dong cũng phải là loại lá nhỏ, xanh và dùng dây lạt tước nhỏ, quấn theo chiều dài của bánh.
Để bánh giữ nguyên được hương vị thơm ngon mà không bị nhão, người ta không cho bánh vào luộc và đem hấp cách thủy. Hơi nước làm bột chín đều, không bị nhão và nhân bánh cũng không bị nhạt. Chiếc bánh xinh xắn, mở lớp lá dong xanh, khúc bánh hiện ra màu trắng trong, tỏa hơi nóng, mùi thơm dịu nhẹ.
Bánh mật, bánh gai
Vào dịp Tết, ở một số gia đình thường làm bánh mật, bánh gai, một loại bánh dân dã được làm bằng bột nếp. Thường thì gạo nếp sau khi xay xong, để ráo nước rồi đem trộn với mật mía cho thật mịn. Nhân bánh làm bằng đỗ xanh, xào chín với đường, thêm chút dừa hay thịt mỡ luộc bằng nước đường rồi cho vào giữa bánh, gói lại thành hình vuông. Nếu là bánh gai thì thêm ít lá gai khô, luộc rồi băm nhỏ, trộn vào bột cùng mật mía.
Để gói các loại bánh này thường phải là lá chuối khô, sau đó cho bánh vào nồi hấp cách thủy sao cho đủ độ chín, bánh không nát mà cũng không bị cứng quá.
Để ăn bánh mật, bánh gai, người thưởng thức cũng phải rất cầu kỳ khi tước nhỏ từng sợi lá chuối, nếu không bánh sẽ bị dính hết vào lớp lá, lộ hết lớp nhân bên trong. Khi bóc ra, bạn sẽ thấy một màu nâu hay đen mỏng tang, bao bọc lấy lớp nhân đậu xanh thơm thơm cùng mùi mật mía, lá gai, lá chuối khô tạo thành một hương vị độc đáo, đậm chất thôn dã.
Kẹo dồi
Món đồ ăn chẳng cao lương mỹ vị, mà lại rất giản dị cũng luôn hấp dẫn du khách. Nguyên liệu làm kẹo dồi đơn giản, thường được làm từ mạch nha, đường và lạc nhưng đòi hỏi phải có sự kỳ công và khéo léo của người làm. Nấu mạch nha phải đến độ keo nhất định, không lỏng quá cũng không quá cứng để “đánh” kẹo thành công. Vì thế người làm phải có sức khỏe và sự bền bỉ.
Cả khối đường được dàn mỏng, càng mỏng càng tốt, rồi cho hỗn hợp nhân lạc đã nhào đường, mạch nha vào giữa, cuốn tròn lại thành hình dồi chó. Chờ nguội đủ độ, lấy dao cắt vát thành những khoanh kẹo như những miếng dồi.
Sau khi ngắm cảnh thôn quê, ngồi bên quán trà đầu làng, thưởng thức món kẹo dồi trắng phau bên chén trà xanh ngát hương, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống nơi đây thật thú vị.
Nem Phùng nổi tiếng
Những quả nem vuông vắn, khi mở ra thơm nức mùi thính gạo, của bì lợn, mùi hăng hăng của lá sung… khiến bất kỳ ai một lần ăn cũng nhớ mãi. Món nem Phùng đặc biệt bởi việc chọn nguyên liệu cầu kỳ, chế biến cũng rất công phu. Để làm nem Phùng ngon, người ta phải chọn thịt mông sấn có nạc, có mỡ, ngoài bì phải sạch lông. Dựa theo thớ mà người chế biến cắt ra từng khúc, sau đó nhúng nước sôi cho tái rồi vớt ra, lọc bì riêng, thịt nạc, thịt mỡ riêng.
Bì lợn phải luộc hai lần cho đến khi bì mỏng và trong rồi thái sợi chỉ mảnh, vừa thơm, vừa giòn. Thịt nạc, thịt mỡ cũng đem thái nhỏ xíu như hạt đỗ xanh, mỡ càng mỏng và nhỏ hình con chì, trộn một ít gia vị như muối tiêu, nước mắm ngon, mì chính gia giảm đúng liều lượng.
Gạo để rang thính làm nem phải là gạo nếp quýt pha lẫn gạo tẻ theo đúng tỉ lệ để thính xốp và thơm. Rang gạo làm thính cũng rất công phu, làm sao để cho đủ nhiệt, lên màu vàng như cánh gián. Sau đó bột thính trộn đều với nhân thịt. Để cho nem ngon, người ta trộn bì vào sau. Lá gói nem cũng phải là lá chuối tây, còn xanh, rửa sạch phơi ráo nước, sau đó gói kín nhân buộc lại bằng lạt, giữ ấm vài ngày là có thể ăn được. Nem Phùng phải ăn kèm với lá sung non, lá đinh lăng, chấm với nước mắm pha chua ngọt và có độ cay mới thưởng thức được hết hương vị thơm ngon của món ăn quê mùa, dân dã này.
Gà Mía xứ Đoài
Nhắc đến xứ Đoài thơ mộng, người ta không thể quên nói về giống gà Mía nổi tiếng. Trong mâm cỗ ngày lễ, giỗ chạp, thờ cúng, ngày Tết, món gà Mía luộc bao giờ cũng được nhiều người ưa chuộng.
Gà Mía là giống gà thuần chủng được nuôi dưỡng và bảo tồn tại vùng Đường Lâm từ rất lâu đời. Đây là giống gà có trọng lượng vừa phải, khi luộc chín tới, để nguội, chặt miếng thịt gà to bằng bao diêm, rắc lá chanh thái chỉ, thịt trắng, dai chắc và đặc biệt thơm ngon. Thịt còn nguyên lớp da, dưới là lớp mỡ mảnh, ngọt mà không ngấy, không béo như một số loại gà khác.
Khi ăn cùng với miếng dưa cần muối xổi khiến vị béo của mỡ, vị thơm ngọt của thịt gà hòa trong vị chua giòn của dưa cần khiến người ăn nhớ mãi.
Theo Anh Phương (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014
Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014
Con ghẹm vùng Đất Mũi
(TBKTSG) - Ca dao có câu: “Le le vịt nước bồng bồng / Con cua, con ghẹm, con còng mấy chân?”. Câu đố nhưng rất dễ trả lời vì cua, còng và ghẹm đều rất giống nhau về ngoại hình kể cả càng và ngoe, có điều mỗi loại khác nhau ở kích thước lớn nhỏ mà thôi. Với người nông dân vùng sông nước lợ và mặn, ghẹm là một loài thủy sản quá đỗi thân thuộc; nó còn được gọi là rệm hoặc rạm, tùy vùng. Thoạt trông rất giống cua, nhưng ghẹm có đôi càng to, mai lồi lõm, xù xì.
Cứ khoảng tháng 9 tháng 10 âm lịch, khi những cơn mưa trút xuống xối xả là bắt đẩu vào mùa ghẹm. Người ta để mồi cá tép ươn đã bốc mùi cùng cám rang dùng lờ hoặc lú sẽ bắt được nhiều ghẹm. Nhưng bắt được nhiều nhất là vào những đêm mưa gió tầm tã. Riêng ở đầm Thị Tường (Trần Văn Thời, Cái Nước thuộc tỉnh Cà Mau), “vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi” (Nguyễn Ngọc Tư, “Nước chảy mây trôi”).
Còn ở huyện U Minh thì hằng năm, cứ vào tháng 8 và tháng 9 âm lịch, con sông Biện Nhị đầy tràn những con ghẹm... Ghẹm là loài sinh vật giống cua biển nhưng lớn nhất cỡ ngón chân cái. Tới mùa, người địa phương đổ xô bắt ghẹm ướp nước đá chở lên Sài Gòn bán. Đó là chuyện bây giờ, chứ xưa kia ghẹm là tai họa đối với cư dân xứ nầy. Người ta chỉ dùng ghẹm cho gà vịt ăn là quá lắm.
Con ghẹm đã thành hàng hóa từ hàng chục năm nay, khiến nông dân mảnh đất Cà Mau có thêm nhiều thu nhập.
Người địa phương ngoài bán còn chế biến ghẹm thành khá nhiều món ăn ngon. Nhưng để có những món ăn ngon từ ghẹm, phải biết cách chọn ghẹm cho từng cách chế biến. Những con ghẹm có cặp càng lớn đem rang hoặc lăn bột chiên ăn với cơm rất ngon, mà nhậu thì hết ý với con cái gạch son luộc chấm muối chanh ớt.
Trong bữa cơm, ghẹm trở thành món canh chủ lực khiến ai cũng gắp “oằn đũa”: canh chua. Trước tiên rửa ghẹm thật sạch, bóc yếm bẻ đôi, tách càng và ngoe (gọng). Tất cả ướp hành lá giã nhuyễn, thêm chút đường, chút nước mắm nhĩ cùng một ít tiêu, trộn đều. Bắc chảo lên bếp lửa, phi tỏi thật thơm rồi cho ghẹm vào, xào sơ. Khi mùi thơm của ghẹm bốc lên thì cho cà chua xắt miếng cau vào, đảo đều rồi xớt vào nồi, đổ nước vào một lượng vừa đủ. Nồi canh sôi bùng thì thêm me, nhưng trái giác mới đúng điệu, vào cùng một mớ rau ghém (bắp chuối xắt). Ghẹm chín, nêm nếm vừa ăn múc ra tô, rắc thêm tiêu, dọn ra bàn, bảo đảm nồi cơm hôm đó không còn một hột. Canh chua ghẹm càng ngon hơn vào những hôm mưa gió sụt sùi, nó còn tăng thêm sức đề kháng cho con người.
Ghẹm còn được chế biến thành một số món ăn ngon, như chiên nước mắm, hấp bia, rang me, rang muối ớt... Nhưng cái món khoái khẩu của dân nhậu vùng đất cuối trời nầy không gì bằng ghẹm rang mặn. Ghẹm rửa sạch, tách mai và yếm, cắt bớt chân, chú ý giữ nguyên lớp gạch chéo trên lưng ghẹm. Ướp ghẹm với chút muối, cho vào ơ, chế dầu ăn vào, đảo đều. Đun chừng mười phút thì ghẹm chín, thêm đường, tương ớt vừa ăn, trước khi tắt bếp thì cho vài miếng chanh giấy xắt chỉ cùng sả giã hoặc tiêu là đã có”mồi bén”, nhậu quên... say. Mê nhất là lớp gạch chéo trên lưng ghẹm béo không gì bằng!
Những khi ghẹm nhiều quá, “trúng đậm”, ăn hoặc bán không hết, người ta muối ghẹm để dùng dần. Ghẹm rửa sạch, sắp vô chum. Nước muối nấu sôi, để nguội, đổ ngập, đậy kín. Chừng mười ngày sau thì đem mắm ghẹm ra giằm nhiều ớt tỏi. Mắm ghẹm ăn với cơm hoặc bún đều rất... hao.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong bài “Nước chảy mây trôi” cho biết: “ Ở đầm (Thị Tường) người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy. Rồi hỏi về mắm, dù mùa cá hội đã qua lâu lắm rồi nhưng nhà nào cũng còn hũ mắm (ghẹm) chưa giỡ, chỉ cần hé cái nắp đậy một chút đã nghe thơm lừng lựng mũi”.
Người dân sống dọc các con sông Cái Tàu, Cái Đôi Vàm... (Cà Mau) dù rất “quen thân” con ghẹm vậy mà vẫn chắc lưỡi “kêu” dữ trời: “Giữa trưa mà ăn cơm nguội với ghẹm muối thì chết rất uổng, nhưng phải muối cho thiệt mặn nghen!”.
Theo Phương Kiều (The Saigon Times)
Du lịch, GO!
Cứ khoảng tháng 9 tháng 10 âm lịch, khi những cơn mưa trút xuống xối xả là bắt đẩu vào mùa ghẹm. Người ta để mồi cá tép ươn đã bốc mùi cùng cám rang dùng lờ hoặc lú sẽ bắt được nhiều ghẹm. Nhưng bắt được nhiều nhất là vào những đêm mưa gió tầm tã. Riêng ở đầm Thị Tường (Trần Văn Thời, Cái Nước thuộc tỉnh Cà Mau), “vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi” (Nguyễn Ngọc Tư, “Nước chảy mây trôi”).
Con ghẹm đã thành hàng hóa từ hàng chục năm nay, khiến nông dân mảnh đất Cà Mau có thêm nhiều thu nhập.
Người địa phương ngoài bán còn chế biến ghẹm thành khá nhiều món ăn ngon. Nhưng để có những món ăn ngon từ ghẹm, phải biết cách chọn ghẹm cho từng cách chế biến. Những con ghẹm có cặp càng lớn đem rang hoặc lăn bột chiên ăn với cơm rất ngon, mà nhậu thì hết ý với con cái gạch son luộc chấm muối chanh ớt.
Trong bữa cơm, ghẹm trở thành món canh chủ lực khiến ai cũng gắp “oằn đũa”: canh chua. Trước tiên rửa ghẹm thật sạch, bóc yếm bẻ đôi, tách càng và ngoe (gọng). Tất cả ướp hành lá giã nhuyễn, thêm chút đường, chút nước mắm nhĩ cùng một ít tiêu, trộn đều. Bắc chảo lên bếp lửa, phi tỏi thật thơm rồi cho ghẹm vào, xào sơ. Khi mùi thơm của ghẹm bốc lên thì cho cà chua xắt miếng cau vào, đảo đều rồi xớt vào nồi, đổ nước vào một lượng vừa đủ. Nồi canh sôi bùng thì thêm me, nhưng trái giác mới đúng điệu, vào cùng một mớ rau ghém (bắp chuối xắt). Ghẹm chín, nêm nếm vừa ăn múc ra tô, rắc thêm tiêu, dọn ra bàn, bảo đảm nồi cơm hôm đó không còn một hột. Canh chua ghẹm càng ngon hơn vào những hôm mưa gió sụt sùi, nó còn tăng thêm sức đề kháng cho con người.
Ghẹm còn được chế biến thành một số món ăn ngon, như chiên nước mắm, hấp bia, rang me, rang muối ớt... Nhưng cái món khoái khẩu của dân nhậu vùng đất cuối trời nầy không gì bằng ghẹm rang mặn. Ghẹm rửa sạch, tách mai và yếm, cắt bớt chân, chú ý giữ nguyên lớp gạch chéo trên lưng ghẹm. Ướp ghẹm với chút muối, cho vào ơ, chế dầu ăn vào, đảo đều. Đun chừng mười phút thì ghẹm chín, thêm đường, tương ớt vừa ăn, trước khi tắt bếp thì cho vài miếng chanh giấy xắt chỉ cùng sả giã hoặc tiêu là đã có”mồi bén”, nhậu quên... say. Mê nhất là lớp gạch chéo trên lưng ghẹm béo không gì bằng!
Những khi ghẹm nhiều quá, “trúng đậm”, ăn hoặc bán không hết, người ta muối ghẹm để dùng dần. Ghẹm rửa sạch, sắp vô chum. Nước muối nấu sôi, để nguội, đổ ngập, đậy kín. Chừng mười ngày sau thì đem mắm ghẹm ra giằm nhiều ớt tỏi. Mắm ghẹm ăn với cơm hoặc bún đều rất... hao.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong bài “Nước chảy mây trôi” cho biết: “ Ở đầm (Thị Tường) người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy. Rồi hỏi về mắm, dù mùa cá hội đã qua lâu lắm rồi nhưng nhà nào cũng còn hũ mắm (ghẹm) chưa giỡ, chỉ cần hé cái nắp đậy một chút đã nghe thơm lừng lựng mũi”.
Người dân sống dọc các con sông Cái Tàu, Cái Đôi Vàm... (Cà Mau) dù rất “quen thân” con ghẹm vậy mà vẫn chắc lưỡi “kêu” dữ trời: “Giữa trưa mà ăn cơm nguội với ghẹm muối thì chết rất uổng, nhưng phải muối cho thiệt mặn nghen!”.
Theo Phương Kiều (The Saigon Times)
Du lịch, GO!
Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014
Ốc gạo Phú Đa
Người miền Tây hẳn không ai lạ với ốc gạo. Ngày nay, ốc gạo ít còn được bày bán ở lề đường quán cóc mà món ăn bình dân này lại xuất hiện tại những khu du lịch sinh thái, nhà hàng ở miền Tây. Thực khách muốn ăn ốc gạo Phú Đa đúng điệu, đúng chất, phải cất công đến xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Từ những con ốc béo ngậy, qua bàn tay khéo léo của người dân Phú Đa, đã tạo ra những món ăn rất đỗi mộc mạc, nhưng cũng vô cùng hấp dẫn như ốc luộc, ốc hấp sữa, cháo ốc…
Chúng tôi về Phú Đa vào những ngày cuối tháng 5, cồn Phú Đa là một trong những điểm tham quan du lịch hấp dẫn của tỉnh Bến Tre nhất là vào dịp tết Đoan Ngọ hằng năm vì đây cũng chính là mùa khai thác đánh bắt ốc gạo.
Nằm giữa sông Cổ Chiên hiền hòa, và được thiên nhiên ưu đãi nước ngọt quanh năm, cồn Phú Đa thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách – Bến Tre có chiều dài hơn 3.000m, ngang 500m với những bãi đất bồi ven sông, thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt tụ về sinh sống, trong đó có “ốc gạo” và người địa phương nơi đây thường quen gọi là con “ốc gạo cồn Phú Đa”.
Theo lời kể của những người luống tuổi nơi đây, Mùa ốc gạo thường bắt đầu từ tháng 4 cho đến hết tháng 8 âm lịch, nhưng để có những con ốc béo và ngon nhất thì phải vào đúng tháng 5 âm lịch.
< Gỏi ốc gạo.
Từ những con ốc béo ngậy, qua bàn tay khéo léo của người dân Phú Đa, đã tạo ra những món ăn rất đỗi mộc mạc, nhưng cũng vô cùng hấp dẫn như ốc luộc, ốc hấp sữa, cháo ốc …
Nhưng có lẽ món ăn đã làm nên “thương hiệu” ốc gạo Phú Đa lại chính là món bánh xèo nhân ốc với cổ hủ dừa ăn chung với rau đồng chấm nước mắm sả ớt băm, khi ăn thì nhai chầm chậm để thấy con ốc ngọt lịm, béo đậm trong cái hậu giòn. mà khi đã một lần thưởng thức thì thật khó có thể mà quên.
< Bánh xèo với nhân là ốc gạo.
Ở nhiều nơi trong vùng ĐBSCL cũng có ốc gạo, nhưng không có nơi nào ốc gạo lại ngon và đặc biệt như ốc gạo Phú Đa. Vỏ ốc có màu xanh xanh, ruột vàng, thịt rất trắng và vị thơm không lẫn vào đâu được.
Chẳng hiểu sao cũng cùng là ốc gạo nhưng chỉ có ốc sống ở cồn Phú Đa mới thực sự hấp dẫn người sành ăn. Có người bảo rằng, đó là do cách chế biến, có người thì nói do môi trường… nhưng ai cũng phải công nhận rằng, nếu mang ốc gạo Phú Đa nuôi ở nơi khác thì thịt không trắng, vỏ không xanh và chất lượng thịt không ngon bằng ở chính “quê hương” của nó - trên dòng Cổ Chiên.
Ai đã một lần đặt chân đến miệt Chợ Lách, thì chắc hẳn không quên được vị ngọt ngào mà những đặc sản vùng cù lao này dâng tặng.
Theo Báo Cần Thơ, nhà hàng Nón Lá
Du lịch, GO!
Từ những con ốc béo ngậy, qua bàn tay khéo léo của người dân Phú Đa, đã tạo ra những món ăn rất đỗi mộc mạc, nhưng cũng vô cùng hấp dẫn như ốc luộc, ốc hấp sữa, cháo ốc…
Chúng tôi về Phú Đa vào những ngày cuối tháng 5, cồn Phú Đa là một trong những điểm tham quan du lịch hấp dẫn của tỉnh Bến Tre nhất là vào dịp tết Đoan Ngọ hằng năm vì đây cũng chính là mùa khai thác đánh bắt ốc gạo.
Nằm giữa sông Cổ Chiên hiền hòa, và được thiên nhiên ưu đãi nước ngọt quanh năm, cồn Phú Đa thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách – Bến Tre có chiều dài hơn 3.000m, ngang 500m với những bãi đất bồi ven sông, thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt tụ về sinh sống, trong đó có “ốc gạo” và người địa phương nơi đây thường quen gọi là con “ốc gạo cồn Phú Đa”.
Theo lời kể của những người luống tuổi nơi đây, Mùa ốc gạo thường bắt đầu từ tháng 4 cho đến hết tháng 8 âm lịch, nhưng để có những con ốc béo và ngon nhất thì phải vào đúng tháng 5 âm lịch.
< Gỏi ốc gạo.
Từ những con ốc béo ngậy, qua bàn tay khéo léo của người dân Phú Đa, đã tạo ra những món ăn rất đỗi mộc mạc, nhưng cũng vô cùng hấp dẫn như ốc luộc, ốc hấp sữa, cháo ốc …
Nhưng có lẽ món ăn đã làm nên “thương hiệu” ốc gạo Phú Đa lại chính là món bánh xèo nhân ốc với cổ hủ dừa ăn chung với rau đồng chấm nước mắm sả ớt băm, khi ăn thì nhai chầm chậm để thấy con ốc ngọt lịm, béo đậm trong cái hậu giòn. mà khi đã một lần thưởng thức thì thật khó có thể mà quên.
< Bánh xèo với nhân là ốc gạo.
Ở nhiều nơi trong vùng ĐBSCL cũng có ốc gạo, nhưng không có nơi nào ốc gạo lại ngon và đặc biệt như ốc gạo Phú Đa. Vỏ ốc có màu xanh xanh, ruột vàng, thịt rất trắng và vị thơm không lẫn vào đâu được.
Chẳng hiểu sao cũng cùng là ốc gạo nhưng chỉ có ốc sống ở cồn Phú Đa mới thực sự hấp dẫn người sành ăn. Có người bảo rằng, đó là do cách chế biến, có người thì nói do môi trường… nhưng ai cũng phải công nhận rằng, nếu mang ốc gạo Phú Đa nuôi ở nơi khác thì thịt không trắng, vỏ không xanh và chất lượng thịt không ngon bằng ở chính “quê hương” của nó - trên dòng Cổ Chiên.Ai đã một lần đặt chân đến miệt Chợ Lách, thì chắc hẳn không quên được vị ngọt ngào mà những đặc sản vùng cù lao này dâng tặng.
Theo Báo Cần Thơ, nhà hàng Nón Lá
Du lịch, GO!
Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014
Chua thanh 'nho rừng' miền Tây
(DVO) - Càng lớn, trái càng có màu xanh đậm đà và bóng bẩy. Trái chín lại có màu đen thẫm, bên trong tím lịm như mực mồng tơi, tựa như trái nho chín, nhưng kích cỡ nhỏ hơn, có lẽ vì thế mà người bình dân Tây Nam bộ gọi nó là "nho rừng".
< Trái giác chín có màu đen thẫm.
Trong số các loại dây leo mọc hoang khắp những vạt rừng lá dừa nước, vườn tràm, bờ ao,... ít có loài nào mọc khỏe như loài giác. Giác bị chặt hoặc tàn lụi trong mùa nắng sẽ đâm chồi mơn mởn sau mưa. Hễ còn một khúc rễ ngắn là giác có thể sinh tồn. Trái giác tròn, hơi dẹp, nhỏ và dính nhau thành từng chùm. Khi còn non, trái nhỏ như hạt đậu xanh.
Người có kinh nghiệm chế biến ít khi chọn trái giác chín, bởi nó tạo màu nước tím đen không đẹp mắt. Họ chỉ hái những trái già hoặc vỏ hơi hườm hườm hái nhiều chùm về rồi lặt từng trái một, sau đó rửa sạch.
Cá rô có màu xanh từ xám đến nhạt, mang cá có hình răng cưa, trên lưng có hàng gai nhọn, hai hàm răng bén. Cá sống ở môi trường nước ngọt, nước lợ. Khắp sông rạch, ao đìa, lung bàu, trên đồng ruộng bát ngát cánh cò bay ở miền Tây Nam bộ là môi trường lí tưởng cho cơ sở rô sống và sinh con đẻ cháu. Cá rô mề tháng chín mười ăn nhụy lúa béo tròn.
Người bình dân đốn tre, chẻ rồi vót câu, đào trùn làm mồi để cắm dọc theo bờ ruộng như bắt cá. Loài cá này có nhiều cách chế biến, từ món kho tộ cho đến nướng, chiên, nấu canh chua, kho mắm… món nào cũng tuyệt, nhưng có lẽ hấp dẫn nhất là món cá rô nấu canh chua và cá rô kho trái giác.
"Trái giác già trái giác ngả màu đen,
Thương người có nghĩa mấy phen hẹn thề" - Ca dao.
Trái giác non có vị chua chát, càng lớn vị thay đổi từ chua thanh đến chua ngọt, chất nhờn của trái gây ngứa nên không ăn được. Nhưng trí tuệ dân gian thật tuyệt vời khi họ đã sáng tạo ra cách dùng trái giác để kho cá hay nấu canh chua, tạo nên những món ăn đặc trưng miền sông nước.
Cá rô cũng làm sạch, để ráo. Rau dùng để nấu canh chua thường là những ngọn rau muống đồng mọc hoang ngoài bờ ruộng, vườn tạp. Chuẩn bị xong, bắc nồi nước lên nấu cho thật sôi rồi thả trái giác vào nấu đến khi trái mềm rệu rã thì lược lấy trái cho ra tô. Sau đó, cho một ít nước sôi vào tô, dầm vừa tay cho trái giác nhuyễn từ từ, cho thêm một ít nước sôi nữa hòa vào phần đã dầm để lọc lấy nước trút lại vào nồi canh đang nấu.
Lược nước chua xong là cho cá rô vào nồi. Trong lúc này, người ta sẽ nêm nếm cho nồi canh vừa ăn với các gia vị: ớt, bột ngọt, nước mắm và ít đường. Đợi cá chín, cho tiếp rau vào. Nồi canh vừa ăn, cá và rau chín đều thì nhấc nồi xuống. Rau ngò om được rửa sạch và cắt nhỏ sẽ cho vào nồi canh sau cùng, để mùi thơm của rau dậy hơn. Vậy là có nồi canh chua ngon như ý.
Sẵn bếp than hồng, người ta kho khô luôn ướp cá đã làm sạch với ít đường, tiêu, hành lá, ớt, nước mắm ngon, bột ngọt,… để chừng nửa giờ cho cá thấm. Những chùm giác về lặt rời rửa sạch. Sau đó cho cá rô vào nồi đất, rải đều lên cá một lớp trái giác rồi đốt lửa kho. Lúc sau, cho thêm ít tóp mỡ và chế thêm nước cho nồi cá xăm xắp.
Vậy mới biết trí tuệ dân gian đã giúp người bình dân kết hợp hài hòa và khéo léo từ những con, cây, trái,… để cho những món ăn vừa đậm đà hương vị vừa gợi nhớ thuở xưa con người đến vùng đất này khám phá và chinh phục thiên nhiên, phục vụ cho chính cuộc sống của mình.
Theo Út Tẻo (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
< Trái giác chín có màu đen thẫm.
Trong số các loại dây leo mọc hoang khắp những vạt rừng lá dừa nước, vườn tràm, bờ ao,... ít có loài nào mọc khỏe như loài giác. Giác bị chặt hoặc tàn lụi trong mùa nắng sẽ đâm chồi mơn mởn sau mưa. Hễ còn một khúc rễ ngắn là giác có thể sinh tồn. Trái giác tròn, hơi dẹp, nhỏ và dính nhau thành từng chùm. Khi còn non, trái nhỏ như hạt đậu xanh.
Người có kinh nghiệm chế biến ít khi chọn trái giác chín, bởi nó tạo màu nước tím đen không đẹp mắt. Họ chỉ hái những trái già hoặc vỏ hơi hườm hườm hái nhiều chùm về rồi lặt từng trái một, sau đó rửa sạch.
Cá rô có màu xanh từ xám đến nhạt, mang cá có hình răng cưa, trên lưng có hàng gai nhọn, hai hàm răng bén. Cá sống ở môi trường nước ngọt, nước lợ. Khắp sông rạch, ao đìa, lung bàu, trên đồng ruộng bát ngát cánh cò bay ở miền Tây Nam bộ là môi trường lí tưởng cho cơ sở rô sống và sinh con đẻ cháu. Cá rô mề tháng chín mười ăn nhụy lúa béo tròn.
Người bình dân đốn tre, chẻ rồi vót câu, đào trùn làm mồi để cắm dọc theo bờ ruộng như bắt cá. Loài cá này có nhiều cách chế biến, từ món kho tộ cho đến nướng, chiên, nấu canh chua, kho mắm… món nào cũng tuyệt, nhưng có lẽ hấp dẫn nhất là món cá rô nấu canh chua và cá rô kho trái giác.
"Trái giác già trái giác ngả màu đen,
Thương người có nghĩa mấy phen hẹn thề" - Ca dao.
Trái giác non có vị chua chát, càng lớn vị thay đổi từ chua thanh đến chua ngọt, chất nhờn của trái gây ngứa nên không ăn được. Nhưng trí tuệ dân gian thật tuyệt vời khi họ đã sáng tạo ra cách dùng trái giác để kho cá hay nấu canh chua, tạo nên những món ăn đặc trưng miền sông nước.
Cá rô cũng làm sạch, để ráo. Rau dùng để nấu canh chua thường là những ngọn rau muống đồng mọc hoang ngoài bờ ruộng, vườn tạp. Chuẩn bị xong, bắc nồi nước lên nấu cho thật sôi rồi thả trái giác vào nấu đến khi trái mềm rệu rã thì lược lấy trái cho ra tô. Sau đó, cho một ít nước sôi vào tô, dầm vừa tay cho trái giác nhuyễn từ từ, cho thêm một ít nước sôi nữa hòa vào phần đã dầm để lọc lấy nước trút lại vào nồi canh đang nấu.
Lược nước chua xong là cho cá rô vào nồi. Trong lúc này, người ta sẽ nêm nếm cho nồi canh vừa ăn với các gia vị: ớt, bột ngọt, nước mắm và ít đường. Đợi cá chín, cho tiếp rau vào. Nồi canh vừa ăn, cá và rau chín đều thì nhấc nồi xuống. Rau ngò om được rửa sạch và cắt nhỏ sẽ cho vào nồi canh sau cùng, để mùi thơm của rau dậy hơn. Vậy là có nồi canh chua ngon như ý.
Sẵn bếp than hồng, người ta kho khô luôn ướp cá đã làm sạch với ít đường, tiêu, hành lá, ớt, nước mắm ngon, bột ngọt,… để chừng nửa giờ cho cá thấm. Những chùm giác về lặt rời rửa sạch. Sau đó cho cá rô vào nồi đất, rải đều lên cá một lớp trái giác rồi đốt lửa kho. Lúc sau, cho thêm ít tóp mỡ và chế thêm nước cho nồi cá xăm xắp.
Vậy mới biết trí tuệ dân gian đã giúp người bình dân kết hợp hài hòa và khéo léo từ những con, cây, trái,… để cho những món ăn vừa đậm đà hương vị vừa gợi nhớ thuở xưa con người đến vùng đất này khám phá và chinh phục thiên nhiên, phục vụ cho chính cuộc sống của mình.
Theo Út Tẻo (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014
Đến Hội An nhớ ăn bánh ghẹ xanh
(TTO) - Mỗi buổi chiều về, những hàng quán bán bánh ghẹ xanh tại các ngã phố Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng, Trần Phú… của Hội An (Quảng Nam) lại trở thành điểm hẹn của người dân và cả khách thập phương.
Đồ nghề của hàng bánh ghẹ thật giản tiện, chỉ là chiếc xe đẩy với cái chảo to dùng để chiên bánh, ấy vậy mà khách lúc nào cũng đông đúc. Ghé quầy nào cũng thấy những chiếc bánh ghẹ vàng ruộm, ngập trong dầu đang sôi réo rắt.
Hít hà hương thơm nhè nhẹ của hương bột bắp, thưởng thức vị đậm đà của từng con ghẹ giòn rụm, khi ấy mọi thắc mắc của du khách về cụm từ “bánh ghẹ xanh - đặc sản phố Hội” đã được giải đáp.
< Ghẹ xanh còn tươi là nguyên liệu chính để làm bánh.
Những người bán bánh ghẹ xanh cho rằng, ghẹ thì biển nào cũng có nhưng bánh ghẹ Hội An ngon là do người Hội An biết cách chọn ghẹ. Có thể nói ghẹ xanh ngon và bổ dưỡng nhất trong họ hàng nhà ghẹ, thế nên người Hội An chỉ chọn loại ghẹ này để chế biến món bánh truyền thống của xứ biển quê mình để giới thiệu với du khách thập phương.
Thứ nữa là phải loại ghẹ mới được đánh bắt trong khu vực biển An Bàng, Cửa Đại và xa hơn nữa thì ở biển đảo Cù Lao Chàm...

< Chỉ với chiếc xe đẩy và cái chảo to trở thành hàng quán chính để bán bánh.
Những con ghẹ xanh thật chắc, bấm vào yếm không lún, to cỡ gần bằng bàn tay người lớn mang về làm sạch bằng cách lấy tay lật cái yếm dưới bụng lên, dùng dao nhọn chọc thẳng vào chỗ hõm, đến khi chân và càng của nó duỗi ra thì lột bỏ yếm và cả phần trứng xốp bên ngoài yếm. Tiếp tục dùng bàn chải cọ khắp xung quanh.
Ghẹ đã sạch cho vào nồi, rắc chút bột canh, bỏ thêm sả, gừng. Một nguyên liệu nữa để tạo nên nét đặc trưng riêng cho bánh ghẹ phố Hội chính là bột chiên. Thứ bột được làm từ hạt bắp bãi bồi xứ Cẩm Nam cùng với bột gạo mới gặt nơi cánh đồng được đắp phù sa màu mỡ bởi con sông Thu Bồn quanh năm ăm ắp nước.

< Bánh ghẹ được chiên giòn trong chảo dầu thơm phức.
Bột bắp và bột gạo được bàn tay khéo léo và tỉ mẩn của người dân phố Hội trộn và gia vị theo tỉ lệ phù hợp. Công đoạn tiếp theo cho thêm ít nước, đánh hỗn hợp trên thật nhuyễn và mịn không còn hạt bột nhỏ.
Khi bắt đầu chiên bánh, chủ hàng quán chỉ cần đặt con ghẹ vào bát bột chiên, nhẹ nhàng lăn ghẹ sao cho toàn bộ con ghẹ được bao phủ một lớp áo bột mỏng. Đợi khi dầu ăn trong chảo sôi lăn tăn thì nhanh tay thả ghẹ tẩm bột vào chảo dầu. Chiên ghẹ theo từng mặt, mỗi mặt chiên trong khoảng bốn, năm phút rồi lật để chiên mặt còn lại, thấy bánh chuyển sang màu vàng là được. Khi đưa bánh ra mời khách, chủ hàng còn khéo léo rắc thêm lên mặt bánh một ít tương ớt nếu như khách yêu cầu.
< Những du khách nước ngoài rất thú vị với món bánh rất quen mà lạ này.
Chắc chắn không riêng gì tôi, có rất nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi khi ngang qua hàng bánh ghẹ, chỉ mới nhìn những chiếc bánh vàng ruộm, thơm nồng đã không thể bỏ qua món bánh “tên quen, vị lạ” này.
Bên cạnh tác dụng giàu dinh dưỡng, canxi bánh ghẹ khá tiện lợi và đặc biệt thích hợp với mọi thời tiết, lại hợp túi tiền. Không chỉ ăn tại chỗ, nhiều du khách còn mua về nhà, thậm chí đem làm quà tặng bạn. Thế nên, ăn bánh ghẹ ở Hội An dần dần trở thành nét sinh hoạt văn hóa đầy thi vị. Ai đến Hội An mà chưa tìm ăn bánh ghẹ xanh, khi về sẽ thiếu đi một chuyện để nhớ, để thương...
Theo Thanh Ly (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Đồ nghề của hàng bánh ghẹ thật giản tiện, chỉ là chiếc xe đẩy với cái chảo to dùng để chiên bánh, ấy vậy mà khách lúc nào cũng đông đúc. Ghé quầy nào cũng thấy những chiếc bánh ghẹ vàng ruộm, ngập trong dầu đang sôi réo rắt.
Hít hà hương thơm nhè nhẹ của hương bột bắp, thưởng thức vị đậm đà của từng con ghẹ giòn rụm, khi ấy mọi thắc mắc của du khách về cụm từ “bánh ghẹ xanh - đặc sản phố Hội” đã được giải đáp.
< Ghẹ xanh còn tươi là nguyên liệu chính để làm bánh.
Những người bán bánh ghẹ xanh cho rằng, ghẹ thì biển nào cũng có nhưng bánh ghẹ Hội An ngon là do người Hội An biết cách chọn ghẹ. Có thể nói ghẹ xanh ngon và bổ dưỡng nhất trong họ hàng nhà ghẹ, thế nên người Hội An chỉ chọn loại ghẹ này để chế biến món bánh truyền thống của xứ biển quê mình để giới thiệu với du khách thập phương.
Thứ nữa là phải loại ghẹ mới được đánh bắt trong khu vực biển An Bàng, Cửa Đại và xa hơn nữa thì ở biển đảo Cù Lao Chàm...

< Chỉ với chiếc xe đẩy và cái chảo to trở thành hàng quán chính để bán bánh.
Những con ghẹ xanh thật chắc, bấm vào yếm không lún, to cỡ gần bằng bàn tay người lớn mang về làm sạch bằng cách lấy tay lật cái yếm dưới bụng lên, dùng dao nhọn chọc thẳng vào chỗ hõm, đến khi chân và càng của nó duỗi ra thì lột bỏ yếm và cả phần trứng xốp bên ngoài yếm. Tiếp tục dùng bàn chải cọ khắp xung quanh.
Ghẹ đã sạch cho vào nồi, rắc chút bột canh, bỏ thêm sả, gừng. Một nguyên liệu nữa để tạo nên nét đặc trưng riêng cho bánh ghẹ phố Hội chính là bột chiên. Thứ bột được làm từ hạt bắp bãi bồi xứ Cẩm Nam cùng với bột gạo mới gặt nơi cánh đồng được đắp phù sa màu mỡ bởi con sông Thu Bồn quanh năm ăm ắp nước.

< Bánh ghẹ được chiên giòn trong chảo dầu thơm phức.
Bột bắp và bột gạo được bàn tay khéo léo và tỉ mẩn của người dân phố Hội trộn và gia vị theo tỉ lệ phù hợp. Công đoạn tiếp theo cho thêm ít nước, đánh hỗn hợp trên thật nhuyễn và mịn không còn hạt bột nhỏ.
Khi bắt đầu chiên bánh, chủ hàng quán chỉ cần đặt con ghẹ vào bát bột chiên, nhẹ nhàng lăn ghẹ sao cho toàn bộ con ghẹ được bao phủ một lớp áo bột mỏng. Đợi khi dầu ăn trong chảo sôi lăn tăn thì nhanh tay thả ghẹ tẩm bột vào chảo dầu. Chiên ghẹ theo từng mặt, mỗi mặt chiên trong khoảng bốn, năm phút rồi lật để chiên mặt còn lại, thấy bánh chuyển sang màu vàng là được. Khi đưa bánh ra mời khách, chủ hàng còn khéo léo rắc thêm lên mặt bánh một ít tương ớt nếu như khách yêu cầu.
< Những du khách nước ngoài rất thú vị với món bánh rất quen mà lạ này.
Chắc chắn không riêng gì tôi, có rất nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi khi ngang qua hàng bánh ghẹ, chỉ mới nhìn những chiếc bánh vàng ruộm, thơm nồng đã không thể bỏ qua món bánh “tên quen, vị lạ” này.
Bên cạnh tác dụng giàu dinh dưỡng, canxi bánh ghẹ khá tiện lợi và đặc biệt thích hợp với mọi thời tiết, lại hợp túi tiền. Không chỉ ăn tại chỗ, nhiều du khách còn mua về nhà, thậm chí đem làm quà tặng bạn. Thế nên, ăn bánh ghẹ ở Hội An dần dần trở thành nét sinh hoạt văn hóa đầy thi vị. Ai đến Hội An mà chưa tìm ăn bánh ghẹ xanh, khi về sẽ thiếu đi một chuyện để nhớ, để thương...
Theo Thanh Ly (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014
Đi săn cá chẽm làm mồi.
(TTO) - Cá chẽm có quanh năm, phương tiện đánh bắt phổ biến nhất hiện nay là lưới, câu. Mùa này, về khám phá sông nước miền Tây, được đi theo các ghe lưới cá chẽm chuyên nghiệp về ăn ngay trên bờ thì thật không còn gì bằng.
< Anh Nguyễn Văn Tùng đánh bắt cá chẽm ở Hòn Đá Bạc, Cà Mau.
Cá chẽm là một loài cá sinh sống ở vùng nước lợ hoặc ven biển có độ mặn thích hợp, nhiều nhất là nơi các cửa sông đổ ra biển. Loài cá này có thân dài và dẹp, hao hao cá chép, vẩy màu bạc lấp lánh, từng nổi tiếng là loài cá ngon và thường có tên trong thực đơn của các nhà hàng sang trọng.
Anh Nguyễn Văn Cậy, một tay đánh bắt cá chẽm chuyên nghiệp tại cửa biển Gành Hào, huyện Đông Hải (Bạc Liêu) cho biết khi gió chướng thổi về là cá chẽm bắt đầu vào bờ kiếm ăn. Do đó, các ngư dân thường săn bắt bằng cách bủa lưới dọc theo các bãi biển, gần các cửa sông hoặc xung quanh các hòn đảo có độ sâu 2-5m.
Gặp những lúc trời yên biển lặng, một người giăng khoảng 5 tay lưới, mỗi ngày có thể kiếm 5-10kg cá. Dọc theo bờ biển Cà Mau và Bạc Liêu có nhiều con lớn trên 5kg. Một vài nơi ở miền Trung, nhiều tay câu đã ví cá chẽm là “cọp biển” và người đi câu thường gọi là người “săn cọp”.
Anh Nguyễn Văn Tùng ở huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) nói nghề lưới cá chẽm rất vất vả, đòi hỏi phải có kinh nghiệm, giăng như thế nào, giăng lúc nào và giăng ở đâu... Loại cá này có thể đánh bắt ban ngày nhưng đa số dân biển thích giăng vào chiều tối và gỡ lưới trước 6g sáng để kịp đưa cá ra chợ. Phương tiện đánh bắt cá chẽm hiện nay rất đa dạng như câu, giăng lưới, lưới cào…
Ban đêm, thường cá chẽm lội đến đâu là có lằn sáng đến đó khiến người đánh bắt dễ phát hiện. Vì là loài cá ngon, giá trị kinh tế cao nên gần đây, nhiều nông dân đã bắt đầu nuôi cá chẽm trong ao hồ mang lại hiệu quả đáng kể.
< Cá chẽm chiên giòn xốt 3 vị ớt xanh, khóm và hành tây.
Cá chẽm là một loài cá chắc thịt, ít chất béo, giàu Omega 3 và protein, nên được các nhà hàng chế biến thành nhiều món ngon để phục vụ thực khách, đơn cử như nướng, chiên tươi, chưng tương, kho lạt… ngon nhất là hấp cải bẹ xanh và chiên giòn xốt cà, khóm, củ hành.
Món cá chiên giòn có mùi vị tuyệt hảo là nhờ sự phối hợp tinh tế giữa gia vị và nhiều nguyên liệu tỉ mỉ dùng làm nước xốt như ớt xanh, khóm và hành tây, tạo nên một thứ hương vị quyến rũ, dù là khách sành điệu khó tính nhất cũng không thể chê được.
Còn muốn chế biến món cá hấp cải bẹ xanh, phải chọn cho được những con cá tươi, làm sạch, để ráo và ướp gia vị cho thấm đều trước khi cho cá vào nồi hấp với cải, hành lá. Hấp xong, mở nắp nồi, chúng ta điểm thêm vài cọng ngò rí và vài lát ớt xắt, chỉ cần nhìn sắc màu hài hòa và nghe hương vị đậm đà bốc lên cũng cảm thấy mê.
Còn ăn dân dã tại thuyền câu hoặc ngay trên bờ chỉ cần ướp sơ cá với chút muối, tiêu, bột ngọt rồi hấp cách thủy với hành lá. Thịt cá hấp ngòn ngọt, mằn mặn, thơm ngon và đậm đà hương vị tự nhiên.
< Cá chẽm hấp cải bẹ xanh.
“Nhất da cá mú, nhì lòng cá chẽm”. Đối với cá chẽm, dân sành điệu rất quý bộ đồ lòng cũng giống như người miền Tây khoái ruột cá lóc, quý hiếm hơn trứng rắn và trứng rùa, do đó khi mổ cá to họ thường giữ lại bộ đồ lòng để thưởng thức. Gan cá chẽm thì “hết chỗ chê”, vừa bùi vừa béo. Còn bao tử thì vừa giòn vừa dai, cho vào miệng nhai từ từ thấy vô cùng khoái khẩu, không gì sánh bằng.
Cá chẽm hấp, ngon nhất là ăn lúc còn nóng, không cần nhiều nước, chỉ xâm xấp là đủ ghiền. Có thể chan nước này ăn với bún hoặc cơm, vừa lạ miệng vừa khoái khẩu.
Ai thích ăn bánh tráng cuốn chắc chắn sẽ hài lòng với món cá chẽm hấp. Cứ từ từ dẻ cá rồi cuốn chung với sà lách, húng cây, cải bẹ xanh… chấm với nước mắm chua cay. Tất cả hương vị quyện vào nhau tạo hương vị dân dã, thơm tho và độc đáo.
Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Anh Nguyễn Văn Tùng đánh bắt cá chẽm ở Hòn Đá Bạc, Cà Mau.
Cá chẽm là một loài cá sinh sống ở vùng nước lợ hoặc ven biển có độ mặn thích hợp, nhiều nhất là nơi các cửa sông đổ ra biển. Loài cá này có thân dài và dẹp, hao hao cá chép, vẩy màu bạc lấp lánh, từng nổi tiếng là loài cá ngon và thường có tên trong thực đơn của các nhà hàng sang trọng.
Anh Nguyễn Văn Cậy, một tay đánh bắt cá chẽm chuyên nghiệp tại cửa biển Gành Hào, huyện Đông Hải (Bạc Liêu) cho biết khi gió chướng thổi về là cá chẽm bắt đầu vào bờ kiếm ăn. Do đó, các ngư dân thường săn bắt bằng cách bủa lưới dọc theo các bãi biển, gần các cửa sông hoặc xung quanh các hòn đảo có độ sâu 2-5m.
Gặp những lúc trời yên biển lặng, một người giăng khoảng 5 tay lưới, mỗi ngày có thể kiếm 5-10kg cá. Dọc theo bờ biển Cà Mau và Bạc Liêu có nhiều con lớn trên 5kg. Một vài nơi ở miền Trung, nhiều tay câu đã ví cá chẽm là “cọp biển” và người đi câu thường gọi là người “săn cọp”.
Anh Nguyễn Văn Tùng ở huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) nói nghề lưới cá chẽm rất vất vả, đòi hỏi phải có kinh nghiệm, giăng như thế nào, giăng lúc nào và giăng ở đâu... Loại cá này có thể đánh bắt ban ngày nhưng đa số dân biển thích giăng vào chiều tối và gỡ lưới trước 6g sáng để kịp đưa cá ra chợ. Phương tiện đánh bắt cá chẽm hiện nay rất đa dạng như câu, giăng lưới, lưới cào…
Ban đêm, thường cá chẽm lội đến đâu là có lằn sáng đến đó khiến người đánh bắt dễ phát hiện. Vì là loài cá ngon, giá trị kinh tế cao nên gần đây, nhiều nông dân đã bắt đầu nuôi cá chẽm trong ao hồ mang lại hiệu quả đáng kể.
< Cá chẽm chiên giòn xốt 3 vị ớt xanh, khóm và hành tây.
Cá chẽm là một loài cá chắc thịt, ít chất béo, giàu Omega 3 và protein, nên được các nhà hàng chế biến thành nhiều món ngon để phục vụ thực khách, đơn cử như nướng, chiên tươi, chưng tương, kho lạt… ngon nhất là hấp cải bẹ xanh và chiên giòn xốt cà, khóm, củ hành.
Món cá chiên giòn có mùi vị tuyệt hảo là nhờ sự phối hợp tinh tế giữa gia vị và nhiều nguyên liệu tỉ mỉ dùng làm nước xốt như ớt xanh, khóm và hành tây, tạo nên một thứ hương vị quyến rũ, dù là khách sành điệu khó tính nhất cũng không thể chê được.
Còn muốn chế biến món cá hấp cải bẹ xanh, phải chọn cho được những con cá tươi, làm sạch, để ráo và ướp gia vị cho thấm đều trước khi cho cá vào nồi hấp với cải, hành lá. Hấp xong, mở nắp nồi, chúng ta điểm thêm vài cọng ngò rí và vài lát ớt xắt, chỉ cần nhìn sắc màu hài hòa và nghe hương vị đậm đà bốc lên cũng cảm thấy mê.
Còn ăn dân dã tại thuyền câu hoặc ngay trên bờ chỉ cần ướp sơ cá với chút muối, tiêu, bột ngọt rồi hấp cách thủy với hành lá. Thịt cá hấp ngòn ngọt, mằn mặn, thơm ngon và đậm đà hương vị tự nhiên.
< Cá chẽm hấp cải bẹ xanh.
“Nhất da cá mú, nhì lòng cá chẽm”. Đối với cá chẽm, dân sành điệu rất quý bộ đồ lòng cũng giống như người miền Tây khoái ruột cá lóc, quý hiếm hơn trứng rắn và trứng rùa, do đó khi mổ cá to họ thường giữ lại bộ đồ lòng để thưởng thức. Gan cá chẽm thì “hết chỗ chê”, vừa bùi vừa béo. Còn bao tử thì vừa giòn vừa dai, cho vào miệng nhai từ từ thấy vô cùng khoái khẩu, không gì sánh bằng.
Cá chẽm hấp, ngon nhất là ăn lúc còn nóng, không cần nhiều nước, chỉ xâm xấp là đủ ghiền. Có thể chan nước này ăn với bún hoặc cơm, vừa lạ miệng vừa khoái khẩu.
Ai thích ăn bánh tráng cuốn chắc chắn sẽ hài lòng với món cá chẽm hấp. Cứ từ từ dẻ cá rồi cuốn chung với sà lách, húng cây, cải bẹ xanh… chấm với nước mắm chua cay. Tất cả hương vị quyện vào nhau tạo hương vị dân dã, thơm tho và độc đáo.
Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014
Phá lấu Hộ Phòng
(BCT) - 'Phá lấu' là tiếng Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) để chỉ một món ăn đặc trưng của người Tiều. Theo tích xưa, người Tiều bị người Phúc Kiến (Trung Quốc) xua đuổi phải chạy xuống vùng đất Triều Châu định cư. Triều Châu là nơi đất đai khô cằn, sỏi đá và có nhiều thú dữ. Để sinh tồn, người Tiều bèn đi săn bắn, thịt thú rừng ăn không hết, để nhiều ngày sẽ bị ôi thiu.
Để không uổng phí, và trở bữa với các món bình thường vốn quá ngán, có người nghĩ ra việc ướp thịt với các gia vị cay. Món ăn này được một số người dùng, khen ngon rồi rủ nhau “lấu”. “Lấu”, theo tiếng Tiều có nghĩa là ướp các gia vị cay. Món ăn đặc sệt Tiều này đã phổ biến hầu như rộng khắp Việt Nam từ mấy trăm năm nay, khi người Tiều đặt chân tới đây.
Trên Quốc lộ 1, từ Bạc Liêu đi Cà Mau, có một quán ăn của người Tiều sống lâu đời ở thị trấn Hộ Phòng (huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) bán món “phá lấu”. Phá lấu nơi đây rất ngon, mùi ngũ vị hương thơm một cách khó diễn tả, nên thu hút nhiều khách dừng chân thưởng thức.
Để làm Phá lấu, có thể dùng thịt heo, gà, nhưng ngon nhất là vịt. Để hoàn thành món ăn này, người ta xẻ thịt ra thành từng miếng cỡ bàn tay, ướp với ngũ vị hương pha rượu trắng cao độ cùng xì dầu ngon, hành tỏi băm, tiêu, muối và đường cát trắng.
Nêm nếm vừa miệng, để chừng một tiếng đồng hồ cho hương liệu ngấm. Cho thịt đã ướp (chừa nước lại) vào chảo dầu đun sôi, chiên cho săn, vớt ra, để ráo dầu. Cho nước ướp chừa lại vào nồi với nước dừa xiêm xăm xắp miếng thịt chiên, hầm nhỏ lửa. Nước cạn, châm tiếp nước dừa xiêm vào, hầm đến khi nước sệt, thịt mềm vừa ăn thì vớt ra, xắt từng miếng theo yêu cầu.
Phá lấu được ăn kèm với dưa leo, cà rốt, củ cải trắng… cắt ngang lát mỏng ngâm giấm loãng, hoặc dưa cải, chấm với nước tương giằm ớt, nhưng ngon nhất là chấm với nước hầm pha tỏi và ớt bằm. Phá lấu cùng với dưa chua dùng làm nhân ổ bánh mì, hoặc dùng ăn cơm. Những miếng nội tạng heo, gà, vịt giòn giòn beo béo hoặc những miếng thịt vừa ngọt vừa dai dai thơm mùi thuốc Bắc khiến người ta thưởng thức ngon lành.
Theo Phương Kiều (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Để không uổng phí, và trở bữa với các món bình thường vốn quá ngán, có người nghĩ ra việc ướp thịt với các gia vị cay. Món ăn này được một số người dùng, khen ngon rồi rủ nhau “lấu”. “Lấu”, theo tiếng Tiều có nghĩa là ướp các gia vị cay. Món ăn đặc sệt Tiều này đã phổ biến hầu như rộng khắp Việt Nam từ mấy trăm năm nay, khi người Tiều đặt chân tới đây.
Trên Quốc lộ 1, từ Bạc Liêu đi Cà Mau, có một quán ăn của người Tiều sống lâu đời ở thị trấn Hộ Phòng (huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) bán món “phá lấu”. Phá lấu nơi đây rất ngon, mùi ngũ vị hương thơm một cách khó diễn tả, nên thu hút nhiều khách dừng chân thưởng thức.
Để làm Phá lấu, có thể dùng thịt heo, gà, nhưng ngon nhất là vịt. Để hoàn thành món ăn này, người ta xẻ thịt ra thành từng miếng cỡ bàn tay, ướp với ngũ vị hương pha rượu trắng cao độ cùng xì dầu ngon, hành tỏi băm, tiêu, muối và đường cát trắng.
Nêm nếm vừa miệng, để chừng một tiếng đồng hồ cho hương liệu ngấm. Cho thịt đã ướp (chừa nước lại) vào chảo dầu đun sôi, chiên cho săn, vớt ra, để ráo dầu. Cho nước ướp chừa lại vào nồi với nước dừa xiêm xăm xắp miếng thịt chiên, hầm nhỏ lửa. Nước cạn, châm tiếp nước dừa xiêm vào, hầm đến khi nước sệt, thịt mềm vừa ăn thì vớt ra, xắt từng miếng theo yêu cầu.
Phá lấu được ăn kèm với dưa leo, cà rốt, củ cải trắng… cắt ngang lát mỏng ngâm giấm loãng, hoặc dưa cải, chấm với nước tương giằm ớt, nhưng ngon nhất là chấm với nước hầm pha tỏi và ớt bằm. Phá lấu cùng với dưa chua dùng làm nhân ổ bánh mì, hoặc dùng ăn cơm. Những miếng nội tạng heo, gà, vịt giòn giòn beo béo hoặc những miếng thịt vừa ngọt vừa dai dai thơm mùi thuốc Bắc khiến người ta thưởng thức ngon lành.
Theo Phương Kiều (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014
Về Thanh Hóa ăn nem bốc
(VNE) - Nem chua Thanh Hóa có những biến tấu rất ngon như nem thính, nem chua cuốn mà người dân nơi đây vẫn thường gọi bằng cái tên dân dã là “nem bốc”.
< Mỗi quả nem giá 7.000 đồng/ chiếc.
Trong hành trình ghé thăm thành phố Thanh Hóa để thưởng thức các món ăn đặc sản, ngoài ốc Bến Ngự, bánh khoái, chả tôm nhà thờ, du khách đừng quên rẽ qua phố Đinh Lễ để thưởng thức món “nem bốc”.
Khoảng 3-4h chiều, đi dọc phố Đinh Lễ, khu chợ Vườn Hoa cũ ngày trước, bạn sẽ bắt gặp một dãy phố chuyên bán các món ăn vỉa hè rất nhộn nhịp và đông đúc.
< Nếu có dịp đến Thanh Hóa bạn không nên bỏ qua món ăn chơi hấp dẫn và lạ miệng này.
Dừng chân ở cuối con phố, nơi chuyên bán các món về nem, xung quanh toàn lá chuối xanh, bạn sẽ bị hấp dẫn ngay từ cái nhìn đầu tiên với món “nem bốc” nghe có vẻ lạ tai này.
Đầu tiên là nem chua cuốn. Người ta lấy bánh mướt vuông gói bên trong là một lớp trứng mỏng tang, thịt lợn luộc xé nhỏ, và nem chua để rối.
< Một chiếc nem chua cuốn với giá 5.000đ/chiếc, nếu ăn hai người bạn chỉ cần gọi 4 chiếc như thế này và 4 quả nem là đã lửng bụng.
Khi ăn được chấm kèm với bát nước mắm rắc lạc rang. Vị chua chua ngọt ngọt của nem và thịt luộc, hòa quyện cùng vị bùi thơm của lạc rang và mắm chấm, lại sừn sựn, dai dai của bì sợi đem đến một cảm giác ngon lạ.
Nước mắm chấm là bí quyết làm nên hương vị đậm đà cho món ăn, được pha chế từ nước mắm Thanh Hương nổi tiếng theo công thức riêng có của nhà nem, gồm đường, giấm bỗng, và lạc rang giã nhỏ. Hương vị của mắm rất thanh và ngọt. Ớt tươi được để riêng ra một bát khác để thực khách tự nêm vào theo khẩu vị riêng của từng người.
< Những biến tấu ngon của nem chua Thanh Hóa. Món ăn chơi dân dã với người dân Thanh Hóa nhưng lại là đặc sản khó quên đối với những khách lạ mới thưởng thức lần đầu.
Món nem bốc được yêu thích không kém là nem chua kẹp lá sung, lá đinh lăng, lá ổi và một số loại rau sống khác. Nem bốc cuốn lá sung không ăn kèm tương ớt mà chấm vào bát nước mắm như khi ăn nem chua cuốn.
Loại nem được chọn là nem chua gói to cỡ ba ngón tay, khi bóc ra có hình chiếc oản mà người ta vẫn gọi là “nem quả” hoặc “quả nem”. Sau khi lên men, nem có mùi thơm chua dịu là có thể đem dùng. Vì quán thường rất đông khách nên chủ quán để sẵn kéo cho khách hàng tự bóc và cắt nem.
< Quán bán "Nem bốc" thường rất đông khách, thường mở từ 3h chiều đến khoảng 5 - 6h tối đã hết hàng.
Ngoài việc thưởng thức nem bốc, bạn có thể ăn bánh canh, bánh ích, bánh bèo… ở những hàng quán bên cạnh và đặt mua nem quả về làm quà.
Nem bốc là món quà quê giản dị mà đậm nghĩa tình của người dân Thanh Hóa, góp phần làm phong phú ẩm thực đường phố xứ Thanh nói riêng, kho tàng ẩm thực Việt Nam nói chung.
Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch, GO!
< Mỗi quả nem giá 7.000 đồng/ chiếc.
Trong hành trình ghé thăm thành phố Thanh Hóa để thưởng thức các món ăn đặc sản, ngoài ốc Bến Ngự, bánh khoái, chả tôm nhà thờ, du khách đừng quên rẽ qua phố Đinh Lễ để thưởng thức món “nem bốc”.
Khoảng 3-4h chiều, đi dọc phố Đinh Lễ, khu chợ Vườn Hoa cũ ngày trước, bạn sẽ bắt gặp một dãy phố chuyên bán các món ăn vỉa hè rất nhộn nhịp và đông đúc.
< Nếu có dịp đến Thanh Hóa bạn không nên bỏ qua món ăn chơi hấp dẫn và lạ miệng này.
Dừng chân ở cuối con phố, nơi chuyên bán các món về nem, xung quanh toàn lá chuối xanh, bạn sẽ bị hấp dẫn ngay từ cái nhìn đầu tiên với món “nem bốc” nghe có vẻ lạ tai này.
Đầu tiên là nem chua cuốn. Người ta lấy bánh mướt vuông gói bên trong là một lớp trứng mỏng tang, thịt lợn luộc xé nhỏ, và nem chua để rối.
< Một chiếc nem chua cuốn với giá 5.000đ/chiếc, nếu ăn hai người bạn chỉ cần gọi 4 chiếc như thế này và 4 quả nem là đã lửng bụng.
Khi ăn được chấm kèm với bát nước mắm rắc lạc rang. Vị chua chua ngọt ngọt của nem và thịt luộc, hòa quyện cùng vị bùi thơm của lạc rang và mắm chấm, lại sừn sựn, dai dai của bì sợi đem đến một cảm giác ngon lạ.
Nước mắm chấm là bí quyết làm nên hương vị đậm đà cho món ăn, được pha chế từ nước mắm Thanh Hương nổi tiếng theo công thức riêng có của nhà nem, gồm đường, giấm bỗng, và lạc rang giã nhỏ. Hương vị của mắm rất thanh và ngọt. Ớt tươi được để riêng ra một bát khác để thực khách tự nêm vào theo khẩu vị riêng của từng người.
< Những biến tấu ngon của nem chua Thanh Hóa. Món ăn chơi dân dã với người dân Thanh Hóa nhưng lại là đặc sản khó quên đối với những khách lạ mới thưởng thức lần đầu.
Món nem bốc được yêu thích không kém là nem chua kẹp lá sung, lá đinh lăng, lá ổi và một số loại rau sống khác. Nem bốc cuốn lá sung không ăn kèm tương ớt mà chấm vào bát nước mắm như khi ăn nem chua cuốn.
Loại nem được chọn là nem chua gói to cỡ ba ngón tay, khi bóc ra có hình chiếc oản mà người ta vẫn gọi là “nem quả” hoặc “quả nem”. Sau khi lên men, nem có mùi thơm chua dịu là có thể đem dùng. Vì quán thường rất đông khách nên chủ quán để sẵn kéo cho khách hàng tự bóc và cắt nem.
< Quán bán "Nem bốc" thường rất đông khách, thường mở từ 3h chiều đến khoảng 5 - 6h tối đã hết hàng.
Ngoài việc thưởng thức nem bốc, bạn có thể ăn bánh canh, bánh ích, bánh bèo… ở những hàng quán bên cạnh và đặt mua nem quả về làm quà.
Nem bốc là món quà quê giản dị mà đậm nghĩa tình của người dân Thanh Hóa, góp phần làm phong phú ẩm thực đường phố xứ Thanh nói riêng, kho tàng ẩm thực Việt Nam nói chung.
Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014
Món ếch òn độc đáo của người Chăm
(VNE) - Được chế biến với nhiều cách đậm chất ẩm thực Chăm, món ếch òn sẽ mang đến dư vị khó quên cho những ai một lần thưởng thức.
< Những con ếch òn trông hơi đáng sợ nhưng lại là món ăn giàu dinh dưỡng.
Tháng 5, khi tiếng ve bắt đầu ngân vang, những cơn mưa nặng hạt mùa hạ giăng khắp xóm làng, là lúc người Chăm ở Ninh Thuận thu hoạch ếch òn, loài động vật lưỡng cư cùng loại với ếch, cóc, nhái... Người Chăm xem đây là đặc sản hiếm có, bởi một năm một lần người ta mới được thưởng thức hương vị đặc trưng của nó.
Khi những cơn mưa tầm tã thấm vào đất, ếch òn mới bắt đầu ra khỏi hang, ngoi lên mặt đất để tìm thức ăn, đẻ trứng và giao phối trong những vũng nước đọng. Đặc biệt chúng chỉ sống trong đồi cát hay dưới chân núi, nơi có những miếng đất cát tơi xốp. Mưa càng to, lâu thì chúng sẽ xuất hiện càng nhiều. Thức ăn yêu thích của những chú ếch òn này là mối và những loài côn trùng bay tầm thấp.
Khi tạnh mưa, ếch òn bắt đầu những tiếng kêu gọi bạn tình rền vang, đây cũng là tín hiệu để người săn ếch òn định hướng để tìm bắt. Tuy nhiên chỉ những cơn mưa tháng 5, tháng 6 ếch òn mới nhiều và cũng là mùa săn bắt duy nhất.
Những chú ếch òn ngộ nghĩnh này có thịt ngọt, thơm và xương rất mềm nên được nhiều người ưa chuộng. Ngoài ra ếch òn còn là món ăn giàu chất đạm và bổ dưỡng, được chế biến thành nhiều món khác nhau như luộc, nướng, canh chua hay làm gỏi. Mỗi cách thức chế biến sẽ luôn có hương vị đặc trưng khác biệt và làm say đắm những ai đã một lần thưởng thức.
Ếch òn luộc
Với những người lần đầu thưởng thức sẽ có đôi chút dè dặt khi thấy những con ếch òn luộc chín với hình thù lạ lẫm. Nhưng thử nén cảm xúc và thưởng thức qua, bạn sẽ ngạc nhiên khi cảm nhận hương vị ngọt lịm của miếng thịt trắng phau đến vị mềm giòn rụm từ xương. Chấm với một ít muối ớt hay mắm cay sẽ làm hương vị đậm đà hơn.
Ếch òn nướng
Hương thơm thoảng nhẹ đặc trưng bên lửa than nghi ngút khói thơm sẽ làm vừa lòng cho những ai thưởng thức ếch òn nướng. Ếch òn rửa bằng nước ấm để sạch lớp nhầy trên cơ thể, sau đó phơi qua một ngày nắng để khi nướng ta cảm nhận được mùi thơm của thịt, vị dẻo dai và giòn rụm tan theo trong miệng hòa với vị cay cay của hương thơm từ lá cà ri rừng ăn kèm.
Nấu canh chua lá me
Sau khi sơ chế sạch sẽ, ếch òn được cắt thành những miếng nhỏ và xào tái qua dầu. Gạo tấm dùng khoảng một nắm tay rang cho vàng đều rồi cho vào nồi nước sôi để chín nhừ. Cà dĩa, lá me non sắt nhỏ cho chung vào nồi, để mọi thứ chín đều ta nêm nếm gia vị cho vừa miệng là có thể thưởng thức. Canh có vị chua chua của lá me non, vị thơm của gạo rang, vị bùi tê nơi đầu lưỡi của những trái cà dĩa, vị ngọt đậm đà của những miếng thịt ếch òn. Sau những buổi choáng ngợp men rượu với ếch òn luộc hay nướng thì chén canh chua chua, ngọt ngọt là món lý tưởng để giải rượu.
Làm gỏi
Có lẽ sự khan hiếm của ếch òn đã làm cho người dân Chăm sáng tạo thêm món gỏi với sự pha trộn của nhiều loại rau rừng, nhằm đảm bảo giữ được hương vị thơm ngon mà không cần nhiều ếch òn. Ếch òn luộc chín và bằm nhỏ trộn đều với các loại rau rừng đặc trưng của vùng nắng gió Ninh Thuận như cóc rừng, cà ri rừng…thêm gia vị thường ngày cho vừa miệng. Thưởng thức gỏi ếch òn và nhâm nhi vài ly rượu trong cái mát lạnh của cơn mưa đầu mùa thì không còn gì thú vị bằng.
Với những ai thích khám phá thiên nhiên hoang dã, có thể ghé đến làng Chăm, cùng du ngoạn với vài nông dân đến những triền cát hoang sơ hay mon men theo chân núi để tìm thú vui săn ếch òn lạ lẫm này. Tiếng kêu gọi bạn tình của những chú ếch òn vào buổi trời chiều chập chờn tối trong rừng tĩnh sẽ làm du khách như bước vào thế giới hoang dã, pha lẫn cảm giác hiếu kỳ, hồi hộp len lỏi theo nhịp đập của tim.
Theo Văn Trãi (Vnexpress)
Du lịch, GO!
< Những con ếch òn trông hơi đáng sợ nhưng lại là món ăn giàu dinh dưỡng.
Tháng 5, khi tiếng ve bắt đầu ngân vang, những cơn mưa nặng hạt mùa hạ giăng khắp xóm làng, là lúc người Chăm ở Ninh Thuận thu hoạch ếch òn, loài động vật lưỡng cư cùng loại với ếch, cóc, nhái... Người Chăm xem đây là đặc sản hiếm có, bởi một năm một lần người ta mới được thưởng thức hương vị đặc trưng của nó.
Khi những cơn mưa tầm tã thấm vào đất, ếch òn mới bắt đầu ra khỏi hang, ngoi lên mặt đất để tìm thức ăn, đẻ trứng và giao phối trong những vũng nước đọng. Đặc biệt chúng chỉ sống trong đồi cát hay dưới chân núi, nơi có những miếng đất cát tơi xốp. Mưa càng to, lâu thì chúng sẽ xuất hiện càng nhiều. Thức ăn yêu thích của những chú ếch òn này là mối và những loài côn trùng bay tầm thấp.
Khi tạnh mưa, ếch òn bắt đầu những tiếng kêu gọi bạn tình rền vang, đây cũng là tín hiệu để người săn ếch òn định hướng để tìm bắt. Tuy nhiên chỉ những cơn mưa tháng 5, tháng 6 ếch òn mới nhiều và cũng là mùa săn bắt duy nhất.
Những chú ếch òn ngộ nghĩnh này có thịt ngọt, thơm và xương rất mềm nên được nhiều người ưa chuộng. Ngoài ra ếch òn còn là món ăn giàu chất đạm và bổ dưỡng, được chế biến thành nhiều món khác nhau như luộc, nướng, canh chua hay làm gỏi. Mỗi cách thức chế biến sẽ luôn có hương vị đặc trưng khác biệt và làm say đắm những ai đã một lần thưởng thức.Ếch òn luộc
Với những người lần đầu thưởng thức sẽ có đôi chút dè dặt khi thấy những con ếch òn luộc chín với hình thù lạ lẫm. Nhưng thử nén cảm xúc và thưởng thức qua, bạn sẽ ngạc nhiên khi cảm nhận hương vị ngọt lịm của miếng thịt trắng phau đến vị mềm giòn rụm từ xương. Chấm với một ít muối ớt hay mắm cay sẽ làm hương vị đậm đà hơn.
Ếch òn nướng
Hương thơm thoảng nhẹ đặc trưng bên lửa than nghi ngút khói thơm sẽ làm vừa lòng cho những ai thưởng thức ếch òn nướng. Ếch òn rửa bằng nước ấm để sạch lớp nhầy trên cơ thể, sau đó phơi qua một ngày nắng để khi nướng ta cảm nhận được mùi thơm của thịt, vị dẻo dai và giòn rụm tan theo trong miệng hòa với vị cay cay của hương thơm từ lá cà ri rừng ăn kèm.
Nấu canh chua lá meSau khi sơ chế sạch sẽ, ếch òn được cắt thành những miếng nhỏ và xào tái qua dầu. Gạo tấm dùng khoảng một nắm tay rang cho vàng đều rồi cho vào nồi nước sôi để chín nhừ. Cà dĩa, lá me non sắt nhỏ cho chung vào nồi, để mọi thứ chín đều ta nêm nếm gia vị cho vừa miệng là có thể thưởng thức. Canh có vị chua chua của lá me non, vị thơm của gạo rang, vị bùi tê nơi đầu lưỡi của những trái cà dĩa, vị ngọt đậm đà của những miếng thịt ếch òn. Sau những buổi choáng ngợp men rượu với ếch òn luộc hay nướng thì chén canh chua chua, ngọt ngọt là món lý tưởng để giải rượu.
Làm gỏi
Có lẽ sự khan hiếm của ếch òn đã làm cho người dân Chăm sáng tạo thêm món gỏi với sự pha trộn của nhiều loại rau rừng, nhằm đảm bảo giữ được hương vị thơm ngon mà không cần nhiều ếch òn. Ếch òn luộc chín và bằm nhỏ trộn đều với các loại rau rừng đặc trưng của vùng nắng gió Ninh Thuận như cóc rừng, cà ri rừng…thêm gia vị thường ngày cho vừa miệng. Thưởng thức gỏi ếch òn và nhâm nhi vài ly rượu trong cái mát lạnh của cơn mưa đầu mùa thì không còn gì thú vị bằng.
Với những ai thích khám phá thiên nhiên hoang dã, có thể ghé đến làng Chăm, cùng du ngoạn với vài nông dân đến những triền cát hoang sơ hay mon men theo chân núi để tìm thú vui săn ếch òn lạ lẫm này. Tiếng kêu gọi bạn tình của những chú ếch òn vào buổi trời chiều chập chờn tối trong rừng tĩnh sẽ làm du khách như bước vào thế giới hoang dã, pha lẫn cảm giác hiếu kỳ, hồi hộp len lỏi theo nhịp đập của tim.
Theo Văn Trãi (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014
Bánh sâm, bánh dứa xứ Huế
(TTO) - Huế vốn nổi tiếng với nhiều loại bánh như bột lọc, bánh nậm, bánh bèo… Nhưng du khách đến Huế, thậm chí chính người Huế gốc cũng ít biết đến hai loại bánh sâm và bánh dứa.
< Bánh sâm.
Ông tôi năm nay đã bước sang tuổi 83 nhưng vẫn khỏe mạnh và hàng ngày vẫn tự tay làm bánh. Ba tôi kể những năm chiến tranh nhờ làm hai loại bánh này bán mà ông tôi có thể kiếm tiền nuôi cả một gia đình lớn gồm 12 người con trưởng thành. Giờ ông đã lớn tuổi, nhưng vẫn chưa có ai trong những người con gái hay 7 người con dâu trong gia đình có thể nối nghiệp ông làm hai loại bánh này bởi chúng rất khó làm.
Nói đến hai loại bánh này, cả làng An Thành, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền ai cũng biết vì hàng năm, vào những ngày lễ tết, nhà nào cũng đến nhà ông Lạng (Nguyễn Lạng) - ông nội tôi - đặt bánh về cúng tổ tiên. Vào dịp giỗ quảy trong họ cũng đều dùng hai loại bánh sâm và bánh dứa.
< Bánh sâm được làm tỉ mỉ sao cho ra dáng một nhân sâm.
Bánh sâm còn gọi là bánh con sâm, sở dĩ có tên gọi như vậy vì bánh có hình dáng bên ngoài giống củ nhân sâm. Nguyên liệu để làm bánh là đậu xanh, thứ đậu mà ở làng tôi nhà nào cũng trồng.
Cách trộn bột làm bánh cũng như bánh hạt sen nhưng cái khó là kỹ thuật để tạo dáng, sao cho nặn ra hình con sâm với những nét uyển chuyển cân đối. Cách nhào nặn bột cũng khó, sao để khi nặn và đem sấy khô trên cái mẹt bên trong có để lò than để sấy mà vẫn không bị vỡ vụn ra cũng như phải khéo tay canh nhiệt độ cho thật chuẩn.
< Bánh dứa.
Sau đó là công đoạn mặc áo cho sâm bằng giấy phẩm màu được cắt dán một cách tỉ mỉ sao cho khi sâm khoác áo lên mình thì trở nên lộng lẫy, quý phái, ra dáng một nhân sâm.
Khác với bánh sâm, bánh dứa bên trong có nhân. Nhân bánh bên trong là một hỗn hợp trộn đều bao gồm thịt mỡ heo, mè đen, đậu phộng (lạc) chuối, đường trắng...
Cái khó là lớp áo bọc ngoài, được ông nội làm bằng bột nếp tạo thành lớp tráng bên ngoài, đòi hỏi tay nghề tráng bánh phải ở trình độ cao. Tiếp theo là cách điều chỉnh nhiệt độ để phù hợp, nếu không bánh rất dễ vỡ vì lớp tráng để cuốn và bao bọc lớp nhân bên trong được làm bằng bột nếp...
< Ông Lạng (Nguyễn Lạng).
Hiện ở các chợ lớn như Đông Ba, Bến Ngự… đều không có bán hai loại bánh này mà chỉ có ở chợ làng An Thành vì số lượng làm không nhiều. Một phần chỉ người trong nhà dùng để ăn và cúng tổ tiên, một phần do tuổi ông tôi đã cao nên không thể sản xuất với số lượng lớn bán ra bên ngoài.
Và điều trăn trở của ông tôi là gia đình từ con cháu dâu rể điều không ai kế thừa nghiệp làm bánh.
Theo Nguyễn Xuân Nhật (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Bánh sâm.
Ông tôi năm nay đã bước sang tuổi 83 nhưng vẫn khỏe mạnh và hàng ngày vẫn tự tay làm bánh. Ba tôi kể những năm chiến tranh nhờ làm hai loại bánh này bán mà ông tôi có thể kiếm tiền nuôi cả một gia đình lớn gồm 12 người con trưởng thành. Giờ ông đã lớn tuổi, nhưng vẫn chưa có ai trong những người con gái hay 7 người con dâu trong gia đình có thể nối nghiệp ông làm hai loại bánh này bởi chúng rất khó làm.
Nói đến hai loại bánh này, cả làng An Thành, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền ai cũng biết vì hàng năm, vào những ngày lễ tết, nhà nào cũng đến nhà ông Lạng (Nguyễn Lạng) - ông nội tôi - đặt bánh về cúng tổ tiên. Vào dịp giỗ quảy trong họ cũng đều dùng hai loại bánh sâm và bánh dứa.
< Bánh sâm được làm tỉ mỉ sao cho ra dáng một nhân sâm.
Bánh sâm còn gọi là bánh con sâm, sở dĩ có tên gọi như vậy vì bánh có hình dáng bên ngoài giống củ nhân sâm. Nguyên liệu để làm bánh là đậu xanh, thứ đậu mà ở làng tôi nhà nào cũng trồng.
Cách trộn bột làm bánh cũng như bánh hạt sen nhưng cái khó là kỹ thuật để tạo dáng, sao cho nặn ra hình con sâm với những nét uyển chuyển cân đối. Cách nhào nặn bột cũng khó, sao để khi nặn và đem sấy khô trên cái mẹt bên trong có để lò than để sấy mà vẫn không bị vỡ vụn ra cũng như phải khéo tay canh nhiệt độ cho thật chuẩn.
< Bánh dứa.
Sau đó là công đoạn mặc áo cho sâm bằng giấy phẩm màu được cắt dán một cách tỉ mỉ sao cho khi sâm khoác áo lên mình thì trở nên lộng lẫy, quý phái, ra dáng một nhân sâm.
Khác với bánh sâm, bánh dứa bên trong có nhân. Nhân bánh bên trong là một hỗn hợp trộn đều bao gồm thịt mỡ heo, mè đen, đậu phộng (lạc) chuối, đường trắng...
Cái khó là lớp áo bọc ngoài, được ông nội làm bằng bột nếp tạo thành lớp tráng bên ngoài, đòi hỏi tay nghề tráng bánh phải ở trình độ cao. Tiếp theo là cách điều chỉnh nhiệt độ để phù hợp, nếu không bánh rất dễ vỡ vì lớp tráng để cuốn và bao bọc lớp nhân bên trong được làm bằng bột nếp...
< Ông Lạng (Nguyễn Lạng).
Hiện ở các chợ lớn như Đông Ba, Bến Ngự… đều không có bán hai loại bánh này mà chỉ có ở chợ làng An Thành vì số lượng làm không nhiều. Một phần chỉ người trong nhà dùng để ăn và cúng tổ tiên, một phần do tuổi ông tôi đã cao nên không thể sản xuất với số lượng lớn bán ra bên ngoài.
Và điều trăn trở của ông tôi là gia đình từ con cháu dâu rể điều không ai kế thừa nghiệp làm bánh.
Theo Nguyễn Xuân Nhật (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014
Gỏi cá Tân Mai
(BCT) - Ở phường Tân Mai, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có nhiều quán gỏi cá; trong đó, có món gỏi cá đặc biệt, được gọi là "Gỏi cá Tân Mai".
< Gỏi cá Tân Mai.
Gỏi cá Tân Mai được làm từ cá điêu hồng, cá chép hay cá tai tượng, nhưng phổ biến vẫn là cá điêu hồng vì nhiều thịt. Từng miếng thịt cá tươi ngon được lọc ra từ những con cá còn sống, sau đó trộn với hỗn hợp gia vị như: riềng, hành, tỏi, sả, thính… rồi bày ra đĩa. Gỏi cá không ăn sống mà ăn kèm với nước sốt. Đây cũng chính là nguyên liệu quan trọng quyết định độ ngon của món ăn này.
Nước sốt được chế biến từ thịt cá, gan cá, mỡ cá, riềng, sả, hành tím… thành một hỗn hợp sền sệt, trên mặt rải một ít hạt mè. Nước sốt dựng trong một cái xoong nhỏ, để trên bếp ga. Khi nước sôi, tỏa ra một mùi thơm hấp dẫn của các gia vị. Ngoài nước sốt, gỏi cá còn ăn kèm với rau sống nhiều loại, từ đinh lăng, lá lốt, lá mơ, lá sung đến húng quế, ngò gai, tía tô, diếp cá…
Lấy một miếng cá, gói chung với các loại rau, nhúng vào nồi nước sốt, sẽ thưởng thức được vị tươi ngon, ngọt thịt của cá; vị nồng, chát, hăng, ngọt bùi của rau hòa quyện vào vị béo, mặn, cay của nước sốt. Kèm với gỏi cá lúc nào cũng có đĩa bánh đa. Có thể nhấm nháp bánh không hoặc chấm bánh với nước sốt để thử cảm giác lạ khi kết hợp hai thứ với nhau.
Vừa thưởng thức món ăn đặc sắc, vừa ngắm nhìn dòng sông Đồng Nai lững lờ trôi, bên kia sông là Cù lao Phố, phong cảnh hữu tình, cảm giác không gì tuyệt hơn.
Theo Cát Đằng (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
< Gỏi cá Tân Mai.
Gỏi cá Tân Mai được làm từ cá điêu hồng, cá chép hay cá tai tượng, nhưng phổ biến vẫn là cá điêu hồng vì nhiều thịt. Từng miếng thịt cá tươi ngon được lọc ra từ những con cá còn sống, sau đó trộn với hỗn hợp gia vị như: riềng, hành, tỏi, sả, thính… rồi bày ra đĩa. Gỏi cá không ăn sống mà ăn kèm với nước sốt. Đây cũng chính là nguyên liệu quan trọng quyết định độ ngon của món ăn này.
Nước sốt được chế biến từ thịt cá, gan cá, mỡ cá, riềng, sả, hành tím… thành một hỗn hợp sền sệt, trên mặt rải một ít hạt mè. Nước sốt dựng trong một cái xoong nhỏ, để trên bếp ga. Khi nước sôi, tỏa ra một mùi thơm hấp dẫn của các gia vị. Ngoài nước sốt, gỏi cá còn ăn kèm với rau sống nhiều loại, từ đinh lăng, lá lốt, lá mơ, lá sung đến húng quế, ngò gai, tía tô, diếp cá…
Lấy một miếng cá, gói chung với các loại rau, nhúng vào nồi nước sốt, sẽ thưởng thức được vị tươi ngon, ngọt thịt của cá; vị nồng, chát, hăng, ngọt bùi của rau hòa quyện vào vị béo, mặn, cay của nước sốt. Kèm với gỏi cá lúc nào cũng có đĩa bánh đa. Có thể nhấm nháp bánh không hoặc chấm bánh với nước sốt để thử cảm giác lạ khi kết hợp hai thứ với nhau.
Vừa thưởng thức món ăn đặc sắc, vừa ngắm nhìn dòng sông Đồng Nai lững lờ trôi, bên kia sông là Cù lao Phố, phong cảnh hữu tình, cảm giác không gì tuyệt hơn.
Theo Cát Đằng (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014
Bánh xèo Cao Lãnh - hương vị khó quên
(ĐTO) - Làng bánh xèo Cao Lãnh (Đồng Tháp) với trên chục quán nằm dọc theo sông Cái Sao Thượng thuộc đường Lê Duẩn, phường Mỹ Phú, TP.Cao Lãnh. Hơn 15 năm tồn tại, hương vị món bánh xèo dân dã nơi đây đã làm nao lòng biết bao thực khách phương xa và những người con xa xứ.
Các quán bánh xèo nơi đây phục vụ cả ngày nhưng đông khách nhất là vào mỗi buổi chiều. Đặc biệt, vào những ngày cuối tuần hay dịp lễ, làng bánh xèo lại nhộn nhịp cả ngày. Những ngày này, thực khách không chỉ là dân địa phương mà còn nhiều dân từ các tỉnh, thành khác.
Là dân Vĩnh Long mới qua Đồng Tháp, nghe những thông tin về làng bánh xèo Cao Lãnh qua lời giới thiệu của một số bạn bè thấy thú vị, lại là người có “tâm hồn” ăn uống, thế là tôi quyết định làm chuyến thực tế về làng bánh xèo Cao Lãnh.
Chiều 30/4, được nghỉ lễ, tôi phóng lên xe dạo một vòng quanh làng bánh xèo, nào bánh xèo Hồng Ngọc, Thành Ngọc, Cây trứng cá, Út Nàng,... quán nào cũng đông khách. Quan sát một lượt tôi quyết định ghé vào quán bánh xèo mang cái tên rất đổi chân phương, mộc mạc: Bánh xèo Út Nàng. Quán khá đông khách, có cả xe du lịch mang biển số Sài Gòn đậu trước quán.
Tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy các đầu bếp của quán điệu nghệ trổ tài ngay trước mặt thực khách. Một người phụ trách cùng lúc cả 4 chảo, thực khách vào quán ai cũng được thưởng thức những chiếc bánh nóng giòn bốc khói. Chờ chưa đầy 5 phút, tôi đã có 2 chiếc bánh chín vàng, để trên chiếc đĩa trắng, nóng hổi, ẩn bên trong là màu trắng của giá, sắc đỏ tươi của tép,... trông thật hấp dẫn.
Nhìn đĩa bánh xèo, tôi tấm tắc khen, các đầu bếp với nét mặt vui vẻ vừa đỗ bánh vừa bật mí: “Để bánh vừa giòn vừa dai, thơm vị dừa mà không quá béo thì bột bánh phải làm từ gạo ngon, thêm ít đậu xanh xay nhuyễn trộn với nước cốt dừa... đặc biệt lúc đỗ bánh phải canh lửa nhỏ và đỗ thật mỏng đều khắp mặt chảo”.
Nước chấm đi kèm cũng được pha chế rất khéo từ nước mắm và gia vị, có vị chua the của chanh và phảng phất vị cay nhẹ của ớt thêm ít cà rốt, củ cải trắng cắt sợi đem đến hương vị rất quen mà lạ. Rau ở đây cũng thật tươi ngon, có cả các loại rau vườn đặc trưng ăn bánh xèo như: lá bằng lăng non, lá cách, đọt soi nhái,...
Tôi xé một miếng vỏ bánh vàng ruộm, thêm nhân, rau cuốn thành cuốn. Tai nghe được tiếng bột “xèo” trên mặt chảo nóng; mũi ngửi hương thơm lựng; mắt nhìn được đủ sắc màu vàng óng của bánh, xanh mượt mà của rau và đỏ au của nước mắm ớt. Cuộn miếng bánh xèo từ từ cho vào miệng, bao nhiêu hương vị mặn, ngọt, chua, cay như thay nhau đánh thức toàn bộ vị giác. Đúng là thú vị khi thưởng thức món ăn đơn sơ mà tinh tế đến tuyệt vời này.
Ngồi ăn cùng bàn với tôi, chị Phương Thị Mỹ Nhiên quê ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cho biết: “Một năm tôi cũng đôi, ba lần qua đây công tác, mỗi lần đi công tác tôi đều ghé đây ăn bánh xèo. Ở đây, quán nào cũng bán ngon và có vị lạ của nó. Có quán làm da bánh rất giòn ăn không ngán, lại có nơi làm nhân vô cùng vừa miệng khiến tôi cứ muốn ăn hoài, giá bánh lại rất bình dân, tùy loại nhân: thịt heo, thịt vịt, tôm mà giá dao động từ 13 - 15 ngàn đồng/cái”.
Anh Nguyễn Minh Hiếu ngụ phường 4, TP Cao Lãnh (đang làm việc tại TP Hồ Chí Minh) cũng chia sẻ: “Cuộc sống khiến tôi nay đây mai đó và cũng được thưởng thức nhiều món lạ, thế mà tôi không sao nguôi nhớ món bánh xèo thơm ngon của quê mình”.
Theo Bích Liễu (Đồng Tháp Online)
Du lịch, GO!
Các quán bánh xèo nơi đây phục vụ cả ngày nhưng đông khách nhất là vào mỗi buổi chiều. Đặc biệt, vào những ngày cuối tuần hay dịp lễ, làng bánh xèo lại nhộn nhịp cả ngày. Những ngày này, thực khách không chỉ là dân địa phương mà còn nhiều dân từ các tỉnh, thành khác.
Là dân Vĩnh Long mới qua Đồng Tháp, nghe những thông tin về làng bánh xèo Cao Lãnh qua lời giới thiệu của một số bạn bè thấy thú vị, lại là người có “tâm hồn” ăn uống, thế là tôi quyết định làm chuyến thực tế về làng bánh xèo Cao Lãnh.
Chiều 30/4, được nghỉ lễ, tôi phóng lên xe dạo một vòng quanh làng bánh xèo, nào bánh xèo Hồng Ngọc, Thành Ngọc, Cây trứng cá, Út Nàng,... quán nào cũng đông khách. Quan sát một lượt tôi quyết định ghé vào quán bánh xèo mang cái tên rất đổi chân phương, mộc mạc: Bánh xèo Út Nàng. Quán khá đông khách, có cả xe du lịch mang biển số Sài Gòn đậu trước quán.
Tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy các đầu bếp của quán điệu nghệ trổ tài ngay trước mặt thực khách. Một người phụ trách cùng lúc cả 4 chảo, thực khách vào quán ai cũng được thưởng thức những chiếc bánh nóng giòn bốc khói. Chờ chưa đầy 5 phút, tôi đã có 2 chiếc bánh chín vàng, để trên chiếc đĩa trắng, nóng hổi, ẩn bên trong là màu trắng của giá, sắc đỏ tươi của tép,... trông thật hấp dẫn.
Nhìn đĩa bánh xèo, tôi tấm tắc khen, các đầu bếp với nét mặt vui vẻ vừa đỗ bánh vừa bật mí: “Để bánh vừa giòn vừa dai, thơm vị dừa mà không quá béo thì bột bánh phải làm từ gạo ngon, thêm ít đậu xanh xay nhuyễn trộn với nước cốt dừa... đặc biệt lúc đỗ bánh phải canh lửa nhỏ và đỗ thật mỏng đều khắp mặt chảo”.
Nước chấm đi kèm cũng được pha chế rất khéo từ nước mắm và gia vị, có vị chua the của chanh và phảng phất vị cay nhẹ của ớt thêm ít cà rốt, củ cải trắng cắt sợi đem đến hương vị rất quen mà lạ. Rau ở đây cũng thật tươi ngon, có cả các loại rau vườn đặc trưng ăn bánh xèo như: lá bằng lăng non, lá cách, đọt soi nhái,...
Tôi xé một miếng vỏ bánh vàng ruộm, thêm nhân, rau cuốn thành cuốn. Tai nghe được tiếng bột “xèo” trên mặt chảo nóng; mũi ngửi hương thơm lựng; mắt nhìn được đủ sắc màu vàng óng của bánh, xanh mượt mà của rau và đỏ au của nước mắm ớt. Cuộn miếng bánh xèo từ từ cho vào miệng, bao nhiêu hương vị mặn, ngọt, chua, cay như thay nhau đánh thức toàn bộ vị giác. Đúng là thú vị khi thưởng thức món ăn đơn sơ mà tinh tế đến tuyệt vời này.
Ngồi ăn cùng bàn với tôi, chị Phương Thị Mỹ Nhiên quê ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cho biết: “Một năm tôi cũng đôi, ba lần qua đây công tác, mỗi lần đi công tác tôi đều ghé đây ăn bánh xèo. Ở đây, quán nào cũng bán ngon và có vị lạ của nó. Có quán làm da bánh rất giòn ăn không ngán, lại có nơi làm nhân vô cùng vừa miệng khiến tôi cứ muốn ăn hoài, giá bánh lại rất bình dân, tùy loại nhân: thịt heo, thịt vịt, tôm mà giá dao động từ 13 - 15 ngàn đồng/cái”.
Anh Nguyễn Minh Hiếu ngụ phường 4, TP Cao Lãnh (đang làm việc tại TP Hồ Chí Minh) cũng chia sẻ: “Cuộc sống khiến tôi nay đây mai đó và cũng được thưởng thức nhiều món lạ, thế mà tôi không sao nguôi nhớ món bánh xèo thơm ngon của quê mình”.
Theo Bích Liễu (Đồng Tháp Online)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)












































