Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

Con ghẹm vùng Đất Mũi

(TBKTSG) - Ca dao có câu: “Le le vịt nước bồng bồng / Con cua, con ghẹm, con còng mấy chân?”. Câu đố nhưng rất dễ trả lời vì cua, còng và ghẹm đều rất giống nhau về ngoại hình kể cả càng và ngoe, có điều mỗi loại khác nhau ở kích thước lớn nhỏ mà thôi. Với người nông dân vùng sông nước lợ và mặn, ghẹm là một loài thủy sản quá đỗi thân thuộc; nó còn được gọi là rệm hoặc rạm, tùy vùng. Thoạt trông rất giống cua, nhưng ghẹm có đôi càng to, mai lồi lõm, xù xì.

Cứ khoảng tháng 9 tháng 10 âm lịch, khi những cơn mưa trút xuống xối xả là bắt đẩu vào mùa ghẹm. Người ta để mồi cá tép ươn đã bốc mùi cùng cám rang dùng lờ hoặc lú sẽ bắt được nhiều ghẹm. Nhưng bắt được nhiều nhất là vào những đêm mưa gió tầm tã. Riêng ở đầm Thị Tường (Trần Văn Thời, Cái Nước thuộc tỉnh Cà Mau), “vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi” (Nguyễn Ngọc Tư, “Nước chảy mây trôi”).

Còn ở huyện U Minh thì hằng năm, cứ vào tháng 8 và tháng 9 âm lịch, con sông Biện Nhị đầy tràn những con ghẹm... Ghẹm là loài sinh vật giống cua biển nhưng lớn nhất cỡ ngón chân cái. Tới mùa, người địa phương đổ xô bắt ghẹm ướp nước đá chở lên Sài Gòn bán. Đó là chuyện bây giờ, chứ xưa kia ghẹm là tai họa đối với cư dân xứ nầy. Người ta chỉ dùng ghẹm cho gà vịt ăn là quá lắm.

Con ghẹm đã thành hàng hóa từ hàng chục năm nay, khiến nông dân mảnh đất Cà Mau có thêm nhiều thu nhập.

Người địa phương ngoài bán còn chế biến ghẹm thành khá nhiều món ăn ngon. Nhưng để có những món ăn ngon từ ghẹm, phải biết cách chọn ghẹm cho từng cách chế biến. Những con ghẹm có cặp càng lớn đem rang hoặc lăn bột chiên ăn với cơm rất ngon, mà nhậu thì hết ý với con cái gạch son luộc chấm muối chanh ớt.

Trong bữa cơm, ghẹm trở thành món canh chủ lực khiến ai cũng gắp “oằn đũa”: canh chua. Trước tiên rửa ghẹm thật sạch, bóc yếm bẻ đôi, tách càng và ngoe (gọng). Tất cả ướp hành lá giã nhuyễn, thêm chút đường, chút nước mắm nhĩ cùng một ít tiêu, trộn đều. Bắc chảo lên bếp lửa, phi tỏi thật thơm rồi cho ghẹm vào, xào sơ. Khi mùi thơm của ghẹm bốc lên thì cho cà chua xắt miếng cau vào, đảo đều rồi xớt vào nồi, đổ nước vào một lượng vừa đủ. Nồi canh sôi bùng thì thêm me, nhưng trái giác mới đúng điệu, vào cùng một mớ rau ghém (bắp chuối xắt). Ghẹm chín, nêm nếm vừa ăn múc ra tô, rắc thêm tiêu, dọn ra bàn, bảo đảm nồi cơm hôm đó không còn một hột. Canh chua ghẹm càng ngon hơn vào những hôm mưa gió sụt sùi, nó còn tăng thêm sức đề kháng cho con người.

Ghẹm còn được chế biến thành một số món ăn ngon, như chiên nước mắm, hấp bia, rang me, rang muối ớt... Nhưng cái món khoái khẩu của dân nhậu vùng đất cuối trời nầy không gì bằng ghẹm rang mặn. Ghẹm rửa sạch, tách mai và yếm, cắt bớt chân, chú ý giữ nguyên lớp gạch chéo trên lưng ghẹm. Ướp ghẹm với chút muối, cho vào ơ, chế dầu ăn vào, đảo đều. Đun chừng mười phút thì ghẹm chín, thêm đường, tương ớt vừa ăn, trước khi tắt bếp thì cho vài miếng chanh giấy xắt chỉ cùng sả giã hoặc tiêu là đã có”mồi bén”, nhậu quên... say. Mê nhất là lớp gạch chéo trên lưng ghẹm béo không gì bằng!

Những khi ghẹm nhiều quá, “trúng đậm”, ăn hoặc bán không hết, người ta muối ghẹm để dùng dần. Ghẹm rửa sạch, sắp vô chum. Nước muối nấu sôi, để nguội, đổ ngập, đậy kín. Chừng mười ngày sau thì đem mắm ghẹm ra giằm nhiều ớt tỏi. Mắm ghẹm ăn với cơm hoặc bún đều rất... hao.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong bài “Nước chảy mây trôi” cho biết: “ Ở đầm (Thị Tường) người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy. Rồi hỏi về mắm, dù mùa cá hội đã qua lâu lắm rồi nhưng nhà nào cũng còn hũ mắm (ghẹm) chưa giỡ, chỉ cần hé cái nắp đậy một chút đã nghe thơm lừng lựng mũi”.

Người dân sống dọc các con sông Cái Tàu, Cái Đôi Vàm... (Cà Mau) dù rất “quen thân” con ghẹm vậy mà vẫn chắc lưỡi “kêu” dữ trời: “Giữa trưa mà ăn cơm nguội với ghẹm muối thì chết rất uổng, nhưng phải muối cho thiệt mặn nghen!”.

Theo Phương Kiều (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Rủ nhau đi vườn

(TTO) - Nhiều năm nay cứ đến tháng 5 mùa trái chín, một số nhà vườn nằm trên địa bàn ấp Phú Thứ, xã Phú An, thị xã Bến Cát, Bình Dương không còn phải ngồi chờ thương lái đến mua với giá rẻ mạt, hay phải vất vả hái rồi mang ra chợ ngồi bán. Họ chờ những ngày cuối tuần du khách kéo đến vườn cây đông nghẹt.

< Khách đến vườn cây của dì Tám Nhành (ấp Phú Thứ, xã Phú An, thị xã Bến Cát, Bình Dương).

Các chủ vườn ở đây có cùng một kiểu “bán” như nhau là cho khách vào vườn cây, leo trèo, hái trái cây ăn no bụng chỉ với giá từ 10.000-15.000 đồng/người (xoài, dâu, chôm chôm) kèm với thỏa thuận miệng là không hái trái non, không bẻ nhành cây. Ai hái mang về sẽ được cân ký, tính tiền với giá bán tại vườn.

Khách đến vườn cây, chủ vườn chỉ việc đếm đầu người rồi thu tiền. Chủ vườn vừa trông xe (miễn phí) vừa chờ khách... sai vặt như xin ca trà đá, xin chén nước mắm đường... Thậm chí khách nào lỡ bữa đói bụng hỏi mua mì gói, chủ vườn còn nhiệt tình xuống bếp bê luôn nồi cơm nguội với mấy con cá khô cho khách dùng...

Chứng kiến hàng trăm lượt khách kéo nhau chạy vào con đường đất ngoằn ngoèo dẫn vào những vườn cây ở xã Phú An, tôi lại chạnh lòng khi nghĩ đến địa danh nổi tiếng một thời: Cầu Ngang, Lái Thiêu. Trong khi những mảnh vườn nằm tận nơi heo hút ở làng quê Phú An, Bến Cát, khách lũ lượt kéo đến thì mấy năm nay Sở VH-TT&DL Bình Dương và người dân An Thạnh, An Sơn, Hưng Định lại phải vất vả tổ chức những chương trình lễ hội trái cây để lôi kéo khách đến Cầu Ngang nhưng cây cầu Ngang dẫn lối vào các khu vườn cây vẫn đìu hiu khách.

Vui vẻ, thân thiện, gần gũi, không “chặt chém”. Mua, bán theo đúng kiểu cây nhà lá vườn. Những người dân nhà vườn ở xã Phú An, Bến Cát đã tạo nên một điểm đến quen thuộc cho du khách.

Theo Lê Ngọc Hạnh (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Nghệ thuật làm trống của người Dao đỏ

(DTV) - Nghề làm trống được xem là một nét văn hóa độc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình, dòng họ người Dao Đỏ (Sa Pa, Lào Cai).

Theo phong tục, mỗi gia đình người Dao Đỏ đều phải có một bộ trống và khèn (một bộ gồm một trống và một khèn) để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hóa vào những ngày lễ tết, cưới hỏi...
Cách làm trống của người Dao Đỏ khá công phu, tỉ mẩn. Mặt trống được chọn lựa từ da bò, trâu, sơn dương nhưng phải có độ mỏng cần thiết, nếu da dày thì phải bào mỏng thêm mới có thể dùng được. Sau đó da được đem phơi nắng hoặc để gác bếp 10-15 ngày.

< Các thanh gỗ dăm găm tròn xung quanh tang trống chính là nét độc đáo của trống người Dao Đỏ.

Tang trống được lấy từ gỗ mít đã bị rỗng, hoặc khoét thủng ruột, sau đó vót tròn, vót bóng xung quanh, làm sao cho tang mỏng, nhẹ nhưng vẫn bền và chắc. Thông thường da mặt trống sẽ được giữ vào tang trống bằng cách đóng đinh chết vào nhưng với cách làm trống của người Dao Đỏ là dùng các dây mây dẻo, bền nối lại hai mặt trống.

Sau đó người thợ sẽ dùng các thanh gỗ nhỏ đã được vót đều gọi là nêm đóng chặt vào tang trống để kéo các sợi mây đan vào với nhau để cho da mặt trống căng ra mới có thể tạo ra âm thanh trầm bổng.

Các thanh gỗ dăm găm tròn xung quanh tang trống trống như những cánh hoa nhỏ chính là nét độc đáo của trống người Dao Đỏ so với một số loại trống của một số dân tộc khác ở nước ta.

Bí quyết làm nên một cái trống tốt chính là giai đoạn “gia” và “cố”. Để làm được điều này ngoài kinh nghiệm người làm trống phải có được cái tay và cái tai tốt mới có thể thẩm âm được chiếc trống có âm vang trầm bổng cần thiết.
Theo quan niệm của người Dao Đỏ, cách làm trống sẽ được gia truyền cho những người đàn ông trong gia đình. Tuy nhiên do tính chất kiêng kị, không phải gia đình nào cũng làm trống một cách tùy tiện, chỉ làm vào hai ngày 17/4 và 17/7 trong năm. Còn nếu gia đình nào đặt mua cũng phải xem ngày lành tháng tốt mới mang trống về nhà.

Người Dao Đỏ còn có cả sách dạy đánh trống, có thơ bình về trống với nội dung: Trống này biết đánh thì vui như hội, không biết đánh thì buồn như người đi rừng một mình. Do cấu tạo và chất liệu của tang trống và mặt trống có sự khác biệt nên khi đánh trống tạo ra âm sắc rất riêng. Tiếng trống thoát ra trầm ấm, vang xa, lớp lông thú trên mặt trống đã kìm giữ và điều hòa cho âm thanh không bị “nhọn” và thô. Kỹ thuật đánh trống đã làm cho tiếng trống khi ngân vang, khi trầm bổng tạo nên nhưng âm “bùng…bục”.

Người Dao Đỏ thường dùng trống cùng với thanh la, chũm chọe tạo thành một dàn nhạc gõ để phục vụ trong các lễ tết, hội hè và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng… nó được coi như một giá trị văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của họ.

Theo TH (Dân Tộc Việt)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Làng biển Mỹ Long

Làng ven biển Mỹ Long (nay chia tách thành xã Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam và thị trấn Mỹ Long), thuộc huyện Cầu Ngang, cách thị xã Trà Vinh 30 cây số về  hướng đông nam, cũng là một địa chỉ du lịch được nhiều người biết đến.

< Tưng bừng lễ hội cúng biển ở Mỹ Long ngày 9/6.

Làng biển Mỹ Long có từ những năm 20 của thế kỷ trước. Ngư dân không chỉ bám nghề để làm giàu từ tôm cá mà còn vươn khơi để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tại đây, Hàng  Dương nằm dọc theo bờ biển gần 5 cây số của xã Mỹ Long Nam, quanh năm mát mẻ, lồng lộng gió từ biển khơi thổi vào, thích hợp cho các hoạt động cắm trại,  picnic, dã ngoại…

Hầu hết các làng quê ven biển Nam bộ hàng năm đều có lễ hội Nghinh Ông và ở thị trấn Mỹ Long của huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) có lễ "cúng biển" diễn ra từ mồng 10-12 tháng 5 âm lịch. Theo tương truyền, khoảng năm 1799, trong lúc Nguyễn Ánh bôn tẩu quân Tây Sơn, tìm đường biển chạy sang Xiêm thì gặp bão lớn làm thuyền chao đảo. Trước lúc nguy nan, con cá voi (còn goi là cá Ông) đến nâng thuyền lên và đưa vào bờ biển Trà Vinh giúp Nguyễn Ánh thoát nạn.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long. Nhớ ơn cá voi cứu mình, ông sắc phong cho cá voi là Nam Hải Đại tướng quân.

Khoảng 100 năm trước, làng biển Cung Hầu - Mỹ Long là một trong chín cửa sông Cửu Long đổ ra biển Đông có rất nhiều cá mập. Ngư dân hành nghề đóng đáy song cầu, đáy hàng khơi khi ấy chủ yếu dùng phương tiện thô sơ như thuyền buồm, ghe tam bản nên thường xuyên bị gió bão đánh chìm.Tuy nhiên rất ít trai tráng bị cá mập ăn thịt bởi thuyền khi đắm thường được cá voi cứu giúp, nâng đẩy vào bờ. Từ đó, dân làng tổ chức lễ hội "cúng biển" hàng năm với ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng và tạ ơn biển khơi cùng con cá voi luôn cứu giúp ngư dân bị nạn.

< Nghi thức tống tàu ra khơi.

Đến năm 1920, cuộc sống làng biển Mỹ Long khá giả lên, ngư dân đóng góp xây miếu Bà Chúa Xứ để thờ cúng. Lễ hội không thể thiếu nghi thức Nghinh Ông Nam Hải rồi đến giỗ tiền chức, chánh tế, tống tàu ra khơi. Những chiếc tàu tống ra biển thường chở theo các phẩm vật nhưng con heo trắng hơn 60 kg, gạo, củi, muối…

Cồn Nghêu là cồn cát mới nổi giữa cửa biển Cung Hầu, cách bờ  biển Mỹ Long Nam chừng 3 cây số. Khi thủy triều lên, cả cồn cát chìm trong biển nước nhưng khi nước ròng sát hàng trăm hecta bãi cát nổi lên giữa nắng gió. Người dân Mỹ Long tận dụng cồn cát trời cho này thành bãi nuôi nghêu cho năng  suất cao, sản lượng lớn.

Tuy phải phụ thuộc vào thủy triều nhưng khách du lịch  vẫn ưa thích đến với Cồn Nghêu để được sống giữa biển trời và thưởng thức món nghêu luộc do tự tay mình bắt lấy. Cồn Bần là cồn đất phù sa kết tụ mới nổi giữa cửa biển Cung Hầu, cách Cồn Nghêu chừng 5 cây số về phía thượng nguồn, cách  bờ biển Mỹ Long Bắc chừng 2 cây số. Cả cù lao có diện tích hơn 200 hecta là một  bãi rừng bần nguyên sinh hoang sơ và còn chìm dưới mặt nước khi thủy triều lên.

Trên tán bần quanh năm xanh mát là nơi trú ngụ ưa thích của bao loài chim muông, thú rừng. Dưới cội bần ngâm chân trong nước là môi trường cư trú tự  nhiên của bao loài thủy sinh có giá trị phục vụ cuộc sống con người và tái tạo nguồn lợi thủy hải sản ven bờ. Xen lẫn trong rừng bần, nơi những cuộc đất cao  ráo, những người nông dân yêu lao động, thích sống cuộc đời tự do, cá nước chim  trời, bằng chính đôi tay và sức lực của mình, ngày đêm lấn biển mở rừng, dựng  nhà lập ấp.

Đến với Cồn Bần là đến với vùng rừng sinh thái ngập mặn tiêu biểu  của Trà Vinh và du khách có thể tận mắt mình chứng kiến quá trình khai hoang  mở cõi của cha ông xưa bằng chính những công việc hàng ngày của những cư dân  tiên phong ngày nay trên đất cồn bãi. Mỹ Long là ngôi làng cổ ven biển với những  di tích lịch sử  gắn với giai đoạn “Gia Long tẩu quốc” như Bến Ngự, Bãi Bùn…  cùng nghề truyền thống đóng đáy hàng khơi và lễ hội Nghinh ông nổi tiếng. Mỹ  Long cũng là vùng đất giàu truyền thống, là một trong những chiếc nôi thiêng của  phong trào cách mạng tỉnh Trà Vinh.

Tổng hợp từ Vnexpress, Travinh.gov
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Dâu Truồi ăn 'ngậm mà nghe'...

(TTH) - Hàng năm, cứ đến tầm tháng 5 âm lịch là xứ Truồi thoang thoảng hương dâu…
Không đẹp mã như dâu Nguyệt Biều, chẳng nhiều sự tích như lòn bon đất Quảng nhưng không phải tự nhiên, dâu Truồi lại được khách trong Nam ngoài Bắc “nhắc” mỗi khi có dịp ghé ngang.

Đến cử thu hoạch, dâu Truồi chỉ to xấp xỉ ngón chân cái trẻ con. Ấy vậy mà cái vị ngọt, thanh từ múi dâu trắng đục, mọng nước khiến nhiều người ăn “ngậm mà nghe”, ăn đến… “quên” nhả hột. Dâu Truồi không cứ trái to là ngon. Ra chợ, thấy ai chọn dâu Truồi cứ lật lên lật xuống, lựa cho ra trái dâu có chấm son thì biết ngay là dân “sành điệu”. Trong chùm dâu xanh pha sắc hồng, trái nào có chấm son ăn ngọt thôi rồi.

Ngay cả người xứ Truồi cũng không rõ loài dâu này xuất nguồn từ đâu, khi nào. Mà cũng chẳng nhớ vì sao loại trái cây dân dã còn gọi là dâu tiên. Chỉ biết khi sinh ra, trong lời ru của mẹ, của bà đã thoang thoảng hương dâu thanh ngọt.

< Dâu đã hái phải phái hết cả cây.

Mà kể cũng lạ, cũng là dâu Truồi nhưng bất kể là cùi hay bứng gốc, nếu đem trồng nơi khác thì cứ gọi là chua lè chua loét. Càng lạ hơn, dâu Truồi rất kỵ hái lẻ tẻ. Khi mới đến, định thò tay ngắt thử trái có chấm son ăn cho biết, chẳng ngờ bị ngăn lại. Mới đầu tưởng chủ vườn… tiếc của nhưng sau mới biết, đã hái phải hái hết cả cây, hái lẻ tẻ y như rằng một hai ngày sau, cả cây dâu sẽ bị lũ sâu kéo tới đục từng trái một.

Hôm ghé thôn Đồng Xuân, theo lời ông Trung - chủ một vườn dâu nơi đây, hiện cả thôn có khoảng vài ba chục gốc dâu, từ 30, 40 năm đến tận trăm tuổi. Tầm này mọi năm các vườn dâu chín rộ, trái cứ gọi là trĩu cành kín thân. Trước đó vài ba tháng, con buôn đã đến đặt tiền mua nguyên cây. Năm ngoái, cân ký tại vườn 20-25 ngàn, nhưng năm nay 30-35 ngàn một ký dâu nhưng các vườn vẫn méo mặt.

< Khi dâu chín, trái nào có chấm đỏ (điểm son) ăn ngọt thôi rồi...

Cái đận Giêng hai, chẳng hiểu trời đất như răng mà sương muối ập xuống. Báo hại dâu cả làng Đồng Xuân cứ gọi là điếc đặc. Trái mới bé teo đã khô quắt, rụng xót lòng. Mấy ngày ni mụ vợ tui tiếc của, cứ lụi hụi ra ngóng mấy cây dâu coi có bòn được trái mô không. Trước được mùa, một gốc cho chừng 2 tạ, chừ bòn cả ngày mấy gốc dâu được non chục ký, đủ để cúng ông bà với cho mấy đứa cháu ở trên Huế mà hè mô cũng điện thoại về réo nội nội nhớ để con mấy ký dâu son nghe nội – ông Phan Tư chỉ mấy gốc dâu cả trăm tuổi thở dài.

< Dâu ni không cần nhả hột, cứ ăn cho biết dâu son xứ Truồi.

Dạo một vòng quang thôn Đồng Xuân… rồi lại quành về nhà ông Trung chỉ bởi hiện cả thôn, mỗi nhà ông còn vài ba gốc dâu tàm tạm trái. Ông chỉ quanh quất: Dâu mất mùa, mít, tiêu, thanh trà cũng mất theo. Thời tiết khắc nghiệt quá. Chắc lại là ba cái vụ hiệu ứng nhà kính hay biến đổi khí hậu chi chi đó phải không chú…

Rồi có lẽ thấy “tội”, ông sai mấy đứa con ra hái dâu đãi khách. Thú thật vừa háo hức vừa ngại. Chắc hiểu ý, ông trấn an: không răng mô, vườn còn 2 cây, cây ni cũng gần thu hoạch rồi. Cứ ăn cho biết dâu son xứ Truồi.

Theo Võ Nhân (Báo Thừa Thiên - Huế)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Xóm đóng giày 60 tuổi ở Sài Gòn

(TPO) - Quận 4, TP.HCM được biết đến với những khu phố đóng giày thủ công. Nghề này hình thành hàng chục năm, tạo nên những thương hiệu nổi tiếng gắn liền với nhiều hộ gia đình ở đây.

Theo thời gian, sự tiện lợi và ồ ạt giày nhập ngoại đổ bộ vào Việt Nam, khách hàng đã không còn thiết tha với những đôi giày thủ công vốn nổi tiếng về sự bền chắc, đi rất êm chân. Đến nay đã có rất nhiều thợ không thể sống tiếp được với nghề, nhiều hộ bỏ nghề hoặc cho thuê lại cửa tiệm, nhưng trên các tuyến đường Đoàn Văn Bơ, Hoàng Diệu...của quận 4 vẫn còn nhiều cửa hàng đóng giày thủ công đã tồn tại hơn 60 năm.

Len lỏi trong các con hẻm nhỏ cũng còn nhiều cơ sở sản xuất giày theo quy mô hộ gia đình, nhưng ở đây phần lớn được gia công theo đặt hàng của các cửa tiệm lớn tại TP.HCM.

Hầu hết các công đoạn sản xuất đều thực hiện thủ công. Một người học việc phải mất 3 - 5 năm mới trở thành thợ giày lành nghề.

Bếp dầu là một trong những  dụng cụ cần thiết sử dụng trong sản xuất giày thủ công.

Ngày nay, với sự hổ trợ từ máy móc, những chiếc giày ở đây được may sắc sảo hơn, nhưng nhiều người vẫn chuộng hàng được làm thủ công.

Theo những người làm nghề này, bôi keo là công đoạn quan trọng nhất đòi hỏi người thợ phải tỉ mỉ từng tí một. Người phụ trách khâu này phải là thợ lành nghề, có kinh nghiệm, vì nếu sử dụng lượng keo không đủ sẽ ảnh hưởng đến độ bền, nhưng keo được sử dụng quá nhiều sẽ làm mất thẩm mỹ sản phẩm.

Anh Huy, một chủ tiệm có  thâm niên lâu năm cho biết : "Mỗi tháng tôi gia công được 500 đôi giày, nhưng mỗi đôi cũng chỉ  lời 10.000 đồng.

Mỗi đôi giày thủ công này có giá bán dao động từ 300.000 đến  450.000 đồng. Không như trước đây, hiện những tiệm này không còn ngồi chờ khách đến đặc hàng mà chủ động sản xuất bán sỉ và lẻ theo nhu cầu thị trường.

Đôi giày thủ công làm bằng da cá sấu sang trọng này có giá bán 1,9 triệu đồng.

Giày Trung Quốc đang tràn ngập trên thị trường, giá rẻ, nhiều mẫu mã  nên đã hút hết khách hàng, chỉ còn số ít người Sài Gòn vẫn trung thành với những đôi giầy thủ công.

Anh Nam, tín đồ trung thành của một cửa hàng giày thủ công quận 4, cho biết: "Tôi đã quen mang những đôi giày ở các tiệm quận 4 vì nó chắc chắn, độ bền cao không giống như những giầy Trung Quốc mau hư, bong tróc. Giá lại khá bình dân, chỉ 500.000 đồng là có thể tậu một đôi  vừa ý".

Theo báo Tiền Phong (Tri Thức)
Du lịch, GO!

Thăm trại ngựa Bá Vân

(SGGP) - Có lẽ, ít người biết rằng để bảo tồn nguồn gene ngựa Việt, từ hàng chục năm qua có một trung tâm chuyên nuôi dưỡng, bảo tồn và lai tạo những giống ngựa thuộc loại quý hiếm cho nước ta - được đặt ở một nơi khá kín đáo thuộc khu Việt Bắc. Đây cũng là “lò” sản xuất ngựa đầu tiên và lâu đời nhất ở nước ta.

Nằm ở ngoại ô thị xã Sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm khoảng 7km, điều bất ngờ hiện ra trước mắt tôi khi lạc vào đây là một “thảo nguyên” toàn những con ngựa đẹp mã đang nhẩn nha gặm cỏ. Hỏi ra mới biết, đây là đàn ngựa nuôi bảo tồn và nhân giống của Trung tâm nuôi ngựa Bá Vân - nay đã được đổi tên thành Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi (thuộc Bộ NN-PTNT), nhưng bà con trong vùng vẫn quen gọi là “Trại ngựa Bá Vân” vì tên đã có từ xưa.

Phía sau những rặng keo tai tượng cằn cỗi, các “nài” và huấn luyện viên đang túc trực bên đàn ngựa. Tầm 15 giờ chiều, đội chăn thả lùa cả đàn về chuồng nằm trên một quả đồi. Hàng trăm chiếc móng gõ rầm rập trên đường. Bụi tung mù mịt. Tôi hỏi chị Huệ, một “mã phu” của trại: “Sao lùa ngựa về chuồng sớm thế?”. Chị bảo: “Suốt 1 tháng nay rét hại quá nên mỗi ngày trại chỉ thả ngựa trong vài giờ. Trước 15 giờ phải thu về để ngựa không bị cước chân vì lạnh, nếu không chúng lăn ra chết cả loạt”.

Ngựa trắng chưa hẳn... ngựa bạch

Trạm trưởng của trại là anh Vũ Đình Ngoan mời tôi đi một vòng thăm “trang trại ngựa”, được chia thành rất nhiều khu độc lập. Chỉ vào các khu chuồng ngựa, anh Ngoan nói: “Mỗi khu là một giống ngựa khác nhau. Hiện nay ở đây chúng tôi đang nghiên cứu, bảo tồn, nhân giống và lai tạo rất nhiều giống ngựa. Trong đó, quý nhất là giống ngựa đua và ngựa bạch. Ngoài ra còn có những con ngựa lai khác nữa”.

Từ lâu tôi đã nghe đến cái tên “ngựa bạch” và ở nhiều nơi người ta đang săn lùng ngựa bạch để nấu cao. Giá mỗi lạng cao cũng lên tới 400.000 - 500.000 đồng (bán buôn). Và một con ngựa bạch con (khoảng 2 - 3 tuổi) cũng có giá lên tới 40 - 60 triệu đồng (tùy loại đẹp xấu, to nhỏ). Anh Ngoan bảo luôn: “Tất cả ngựa bạch đều từ đây mà ra. Bây giờ do đã nhân nuôi được nên nó không còn là loài cấm nữa”. Theo anh, trước đây loài ngựa bạch có rất nhiều ở vùng Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng… nhưng “cơn lốc” nấu cao ngựa và phong trào nuôi của bà con mai một nên số lượng đã giảm dần sau nhiều năm. Gần đây, khi trung tâm đẩy mạnh nghiên cứu, nhân giống và chuyển giao ra bên ngoài cho bà con nên phong trào nuôi ngựa đã bắt đầu rộ trở lại.

Tuy nhiên, do quá “sốt” nguồn cao ngựa, theo anh Ngoan, người ta đã nấu (mổ) cả những con ngựa không phải ngựa bạch. “Nhiều người cho rằng cứ ngựa trắng là ngựa bạch nhưng đó là hai loài khác nhau. Thậm chí, nếu không nắm được đặc điểm chính thì không thể phân biệt được” - anh nói. Thực tế, ngựa bạch khác ngựa trắng thường ở chỗ tất cả 9 lỗ đều màu trắng hồng đồng thau (đặc biệt là xem vành mắt) - trong khi trắng thường thì vành mắt đen. “Ngựa trắng thường còn gọi là ngựa kim”- anh Ngoan chia sẻ. Cùng với ngựa bạch là giống ngựa màu quen thuộc, cả hai loại đều là ngựa nội. Từ hàng chục năm qua, trung tâm của anh Ngoan đã lặng lẽ bảo tồn những giống ngựa như thế, trong đó có giống ngựa bạch quý hiếm và rất giá trị.

“Lò” sản xuất ngựa lai

Tuy nhiên, theo anh Ngoan, ngựa bạch và ngựa màu cũng chỉ được coi là giống “ngựa cỏ”- ngựa cổ truyền của người Việt. Bởi đặc tính của chúng thấp, nhỏ và sức kéo (thồ) kém. Đó cũng là lý do vì sao bà con ở vùng nông thôn và vùng miền núi ở cả Bắc bộ, Trung bộ và Tây Nguyên đều không còn hào hứng nuôi nhiều, cộng với tình trạng đàn bị thoái hóa do đồng huyết nên cứ mai một nhanh chóng.

Trong khi đó, giống ngựa ở nước ngoài rất cao to và đẹp mã, sức khỏe khác thường, tiêu biểu như loài ngựa Kabadin. Nhưng anh Ngoan bảo, nếu nhập hẳn giống ngựa ngoại Kabadin về thì bà con không kham nổi do giống ngựa có trọng lượng lớn, chăn nuôi tốn kém, cần nhiều thức ăn. Vả lại, mặc dù chân to, trọng lượng khá lớn, sức thồ - kéo - cưỡi và leo núi đều tốt nhưng kháng thể lại không hợp với khí hậu nước ta nên cũng không chịu đựng được. Vì thế, trung tâm đã lai tạo và nhân giống để cho “ra lò” một giống ngựa lai có tên “ngựa lai Kabadin” nhằm chuyển giao cho bà con ở vùng miền núi.

TS Nguyễn Hữu Trà, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi, cho biết thêm: Giống ngựa Kabadin của trung tâm được nhập về chủ yếu từ Trung Quốc và Liên Xô (cũ). Lúc nào cũng phải duy trì tổng đàn khoảng 200 con, cứ sau 4 - 5 năm lại phải đổi một lứa ngựa Kabadin mới vì chúng sẽ già và bị đồng huyết. Cơ chế lai theo công thức sau: con ngựa đực Kabadin sẽ “lai” với con cái nội (ngựa cỏ) cho ra thế hệ F1. Sau đó, lai tiếp con ngựa đực F1 với con cái nội để ra F2 bằng cách “gửi” con F1 vào đàn ngựa của bà con ở khắp các địa phương từ trong Nam ra ngoài Bắc. “Thực tế bà con rất thích nuôi con F2 hoặc F1 vì nó vừa tầm mắt, sức kéo tốt, cưỡi cũng được. Nếu như con F1 và F2 nặng khoảng 220 - 280kg (F2 nhỏ hơn F1) thì con ngựa thuần Kabadin lại nặng tới 4-5 tạ/con, còn ngựa cỏ nội chỉ nặng có 180 - 230kg/con” - TS Trà cho biết.

Ngựa đua “made in” Việt Nam

Lang thang trên đồng cỏ cùng đàn ngựa, điều làm tôi ngạc nhiên hơn là ở đây còn là một trong những “lò” sản xuất ngựa đua lớn. Những con ngựa đua ra đời ở trại Bá Vân được cung cấp cho nhiều “lò” luyện ngựa đua (nếu không đua thì làm cảnh, nhiều doanh nghiệp đang có mốt chơi) trong cả nước, từ Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai vào tận TPHCM, Đồng Nai và nhiều địa phương khác ở miền Nam… Theo TS Nguyễn Văn Đại, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi, ngựa đua ở đây là giống “ngựa lai ba máu” - thực sự “made in Việt Nam” chứ không được dòng thuần chủng. Và cơ chế lai cũng tương tự như con lai Kabadin 25% máu nhưng có phối thêm gene của con ngựa đua thuần chủng (gọi là ngựa đua ba giống).

“Do điều kiện kinh tế khó khăn, ngân sách không cho phép nên chúng tôi chỉ có thể đưa gene và giống ngựa đua chuẩn của các nước về bằng cách… nhập khẩu tinh trùng của chúng” - anh Đại nói.

Có lẽ, đợt nhập tinh ngựa đua quy mô nhất của trung tâm là nhập 72 liều tinh ngoại, trong đó có 12 liều tinh của hai giống ngựa Westgale và Oldenbuger từ CHLB Đức về Việt Nam để phối giống cho 59 ngựa cái đã lai 25% máu Cabadin. Ngay từ bước đầu thử nghiệm đã có ra “lò” một “mẻ” ngựa đua ba giống “thiện chiến” hơn hẳn. Chỉ sau 2 năm, trọng lượng ngựa đã đạt trung bình gần 260 - 270kg, thành tích tốc độ chạy đã vượt trội hơn hẳn con lai Kabadin 25% máu với mức đạt 42,86 - 43,47km/giờ cho cự ly 1.000m. Tính ra, tốc độ đã cao hơn hẳn ngựa mẹ khoảng 32% và so với giống ngựa bố Flovine đã đạt được 83,7% hoặc 80,9% so với ngựa bố Protential. Cá biệt, có một con đã đạt tốc độ tới 45km/giờ và được trung tâm đặt tên Châu Phi.

Anh Đại chia sẻ: Trại Bá Vân là “lò” sản xuất ngựa đua đầu tiên ở nước ta. Hiện nay đã có thêm một số trung tâm nuôi ngựa như ở Nha Trang (Khánh Hòa), Đức Hòa (Long An) hoặc Củ Chi (TPHCM).

Một ngày ở trung tâm lai tạo ngựa, bên cạnh những đại gia lặn lội từ tận miền Nam ra để lùng mua ngựa đua, ngựa cảnh thì tôi cũng gặp rất nhiều nông dân ở Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn… tìm vào xin nhận chuyển giao về làng bản để nuôi làm ngựa thồ kéo, cưỡi hoặc lập trang trại ngựa thịt.

Điều tôi băn khoăn là tại sao ở một nơi chỉ toàn sỏi đá cằn cỗi, không hề tươi tốt, khí hậu không trong lành như khu thảo nguyên Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (Hà Nội)… lại đem đặt một trung tâm bảo tồn và lai tạo các giống ngựa đặc biệt như trại Bá Vân, TS Đại cười bảo: “Đây là trại ngựa đã được lập ra từ những năm 1960 nhưng vì giai đoạn chiến tranh nên chưa phát triển. Bây giờ cái tên Bá Vân đã trở thành tên gọi quen thuộc của trại nuôi ngựa của chúng tôi”.

* Theo Bộ NN-PTNT, từ năm 2000 đến nay, số lượng ngựa trong cả nước đã giảm nhanh chóng, từ 126.500 con hiện chỉ còn 88.100 con. Nguyên nhân vì giao thông miền núi đã được cải thiện nhưng cái chính là do phong trào nấu cao, xẻ thịt. Chỉ riêng ở huyện Phú Bình - Thái Nguyên, mỗi tuần đều có 200 con ngựa được chuyển từ trên miền núi về để thịt hoặc nấu cao. Tuy nhiên khoảng 3-4 năm gần đây, phong trào nuôi ngựa lại mạnh trở lại do nhu cầu sử dụng ngựa làm du lịch, cưỡi, làm cảnh… diễn ra khá mạnh ở Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Huế, Lào Cai, Hà Giang…


* Theo TS Nguyễn Văn Đại, công trình lai tạo giống ngựa ở nước ta bắt đầu triển khai từ năm 1964. Lúc đó, Chính phủ cho phép nhập 8 con ngựa Kabadin của Liên Xô (cũ) về nuôi, lai tạo và nhân giống. Sau đó, tiếp tục nhập ngựa Kabadin từ Hắc Long Giang (Trung Quốc) về thử nghiệm. Tất cả công thức lai tạo 25% - 50% - 75% máu ngựa Kabadin đều cho kết quả rất tốt. Và thực tế cho thấy, giống ngựa 25% máu Kabadin là công thức phù hợp nhất cho miền núi, còn ngựa 50% và 70% máu Kabadin lại thích hợp cho các khu du lịch, đoàn xiếc, trang trại lớn… để khai thác theo hướng cưỡi, kéo xe du lịch… Chỉ tính những năm gần đây đã có trên 20.000 con ngựa lai từ trung tâm được chuyển giao cho nông dân các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái…

Theo Văn Phúc Hậu (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Hồn gỗ Sơn Đồng

(BCT) - Cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km, làng nghề truyền thống Sơn Đồng (Hoài Đức - Hà Nội) được biết đến là nơi giữ gìn và phát triển những tinh hoa văn hóa trong nghệ thuật điêu khắc của nước ta.

Xã Sơn Đồng có hơn 1.500 hộ dân, hộ nào cũng có ít nhất một người biết chạm khắc gỗ, sơn mài. Cùng với nghề truyền thống là tạc, chạm, khắc và sơn tô tượng để tạo ra những sản phẩm nổi tiếng trong cả nước như tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông ác, tượng các vị La Hán, kiệu bát cống, Sơn Đồng còn có những đồ thờ sơn son thếp vàng chẳng nơi nào sánh được.

Nguyên liệu người làng Sơn Đồng dùng để làm đồ thờ tự thường là gỗ mít, dổi và gỗ vàng tâm.

Những loại gỗ này phải tuân theo đúng quy tắc và chuẩn mực nhất định mới được sử dụng, vì vậy, chất lượng sản phẩm nơi đây luôn được đảm bảo, tuổi thọ luôn lâu hơn những sản phẩm của nơi khác. Riêng gỗ làm tượng phải là gỗ mít: Thân cây mít để tạc tượng, cành nấu xôi, lá cây in oản, không ai dám đem gỗ mít ra để làm giường tủ.

Trong gian xưởng đậm chất tâm linh với  hàng loạt pho tượng lớn nhỏ làm bằng gỗ mít, anh Nguyễn Bá Quý - người đã có 30 năm kinh nghiệm thổi hồn cho gỗ khẳng định:  Làm nghề này không cần “mẫu sinh kề”, vì chúng tôi đã được họa tập từ khi còn trứng nước.

Mới vào nghề phải lấy đất sét luyện với mùn cưa, giấy bạc luyện cho  dẻo để đắp pho tượng, khi thật nhuần nhuyễn hình  ảnh các pho tượng trong đầu rồi mới được học tạc tượng trên gỗ. Phải am hiểu nhà Phật mới làm được tượng có hồn. Bây giờ tôi có thể làm một pho tượng  không cần ảnh, cứ nghĩ trong đầu rồi làm ra thôi”.

Cũng theo anh Quý - thế hệ trẻ bây giờ học nghề có điều kiện thuận lợi hơn nhưng cũng mất 2 năm để thuần thục tay  đục và mất nhiều năm nữa để ngấm vào mình những hồn cốt của tượng phật. Đồ thờ phải đủ ngũ hành: kim - mộc - thủy - hỏa - thổ. Trong đó, kim là yểm vàng trong tượng, mộc là gỗ, thủy là đánh bằng nước cho đẹp, hỏa là dùng đèn khò trong công đoạn chế tác, trước khi hoàn thiện một pho tượng, nghệ nhân phải dùng đất để trát vào, “phi thổ bất thành tượng” là vậy.

Anh Quý cho biết: “ở đâu không biết chứ riêng Sơn Đồng vẫn lưu giữ nghề tạc tượng thủ công, chỉ như thế mới đưa cái tâm của người thợ vào bức tượng. “Mắt chưa nhìn thấy vật nhưng thần tự tay người mà ra” - một câu khái quát nhưng nói lên cái tâm và cái tài của những nghệ nhân làng Sơn Đồng.

Theo Việt Anh (Báo Công Thương)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Thưởng trà cổ thụ ở bản Suối Trời

(ANTĐ) - Đường lên đỉnh Chông Páo Mùa uốn lượn qua  những nương chè. Những cội trà San Tuyết cổ thụ ngả bóng xuống khoảng đất rộng quanh gốc xù xì, nơi những đứa trẻ người Mông vịn cành, đu nhánh nô đùa hồn nhiên như sắc hoa chè đã mấy trăm năm vẫn trắng một màu thuần khiết.

Tôi đến Suối Trời, bản Suối Giàng, Văn Chấn, Yên Bái khi sắc hoa chè San Tuyết cổ thụ nở trắng từng thửa ruộng bậc thang. Cuối xuân đầu hạ nên sương mù lẫn vào mây bay phủ kín núi non, làng bản. Đường lên đỉnh Chông Páo Mùa như dải lụa nhỏ vắt ngang lưng trời, chông chênh, mơ ảo xuyên qua màn sương lên đến đỉnh trời.

< Bản Suối Trời nằm giữa lưng chừng núi.

Bản Suối Trời nằm ở cao độ gần 1.400m nên quanh năm chìm trong sương mây. Những mái nhà của người Mông lợp bằng gỗ Pơmu phủ lên mình lớp rêu phong năm tháng và một màu xanh xám, mốc meo. Bãi đất trống trước bản cũng là khoảng sân chơi của điểm trường tiểu học cắm bản chỉ với hai phòng học nhỏ. Những đứa trẻ đang giờ giải lao từng tốp, từng tốp nô đùa. Lẫn trong tiếng cười con trẻ, hương chè cổ thụ nao nao thoảng một mùi riêng chỉ có ở Suối Trời.

Ở ngang trời, Suối Trời quanh năm se lạnh, không khí lúc giữa trưa vẫn còn đượm hơi sương. Người xứ Suối Trời bảo rằng nơi đây quanh năm mây phủ, khó có ngày trời đất đều khô. Có lẽ cũng bởi vậy mà cây chè nơi đây lúc nào cũng tươi non ngậm đẫm hơi sương. Nếu trời quang mây, đứng ở Suối Trời có thể thấy rõ thị trấn Văn Chấn nhỏ bé, tĩnh lặng bên Quốc lộ 32 lượn thẳng lên phía Bắc, nơi thung lũng Mường Lò nối những cánh đồng lúa rộng lớn liền trời, liền núi. Nhìn về phía xa ngang tầm mắt sẽ thấy con đường nối từ Quốc lộ 32 đi Làng Nhì, Phình Hồ, Bản Mù, Háng Tề Chơ… chỉ như một nét bút mảnh mai trên tấm toan xanh lúc mờ, lúc tỏ.

Những cây chè San Tuyết cổ thụ ở Suối Trời còn đến ngày nay đều đã có 300-400 năm tuổi, hấp thụ tinh túy của đất trời thêm xanh tươi. Nói đến cây chè, người già ở bản Suối Trời kể lại rằng: “Hơn 500 năm trước, trên đỉnh Suối Trời xuất hiện 2 vị đạo sĩ đến đây đánh cờ. Hai ông say mê chơi cờ suốt mấy ngày liền, mặc cho trời giá rét. Thấy vậy, một cô gái trong bản đã cất công đi hái những búp non chè mọc trên đỉnh núi, pha trà mời các ông uống giải khát. Vị trà quá ngon, càng uống, càng thấy tinh thần minh mẫn, ngồi chơi cờ suốt mấy ngày liền cũng không thấy mệt.
Cô gái cho hai vị tiên biết, do cô nấu trà bằng nước suối Tập Lang tinh khiết từ trong lòng núi đá, trên đỉnh Chông Páo Mùa, còn lá trà được hấp thụ khí trời thuần khiết của mây mù gió núi, tạo nên hương vị độc đáo.


< Hết giờ học, đám trẻ con lại đánh đu trên những gốc chè cổ thụ.

Từ đó, hai vị đạo sĩ thường xuyên lên đỉnh Suối Giàng chơi cờ và thưởng thức hương vị khó quên của chè Suối Giàng.

Lên đỉnh Suối Trời, dừng lại bên ngôi nhà sàn đầu bản, cùng thưởng thức vị chè San Tuyết trong không gian yên tĩnh, chỉ có hương trà quyện vào hương núi hương mây, ngắm nhìn những dáng váy Mông nặng bước gùi trà lên dốc, nhìn những đứa trẻ hồn nhiên vịn cành chè cổ thụ nô đùa sẽ thấy không thể nào quên một hương vị, một địa danh mang tên Suối Trời ở giữa lưng trời.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

Khóm Bến Lức nức tiếng gần xa

(BCT) - Đồng bằng sông Cửu Long có hai địa phương nổi tiếng với nghề trồng khóm. Đó là Cầu Đúc (Hậu Giang) và Bến Lức (Long An).

Bến Lức là một huyện thuộc tỉnh Long An, cách TP Tân An (Long An) 15km và cách TP.HCM 30km, là cửa ngõ phía bắc của miền Tây Nam Bộ. Đi dài theo Quốc lộ 1 địa phương nầy, bất cứ lúc nào, khách cũng bắt gặp bên đường nhiều điểm bán khóm. Những trái khóm mắc vào khung hình vuông vàng ươm đẹp mắt, quyến chân khách dừng lại ghé mua. Và ai cũng tấm tắc ngợi khen hương vị độc đáo của sản vật địa phương nầy.

Khóm Bến Lức thịt vàng, gọt bỏ vỏ và xây bỏ mắt, ta sẽ có một thức uống giải khát tuyệt hảo trong những ngày nắng gay gắt lửa. Cắn một miếng, ta sẽ cảm nhận cái giòn nhẹ, sau đó là vị ngọt thanh điểm xuyết chút chua nhẹ thoang thoảng dễ chịu cùng mùi thơm không phân tích được của khóm. Tất cả khiến khứu giác, vị giác, thính giác và xúc giác ta hoàn toàn thỏa mãn.

Khóm Bến Lức khi pha chế thành món ăn cũng để lại ấn tượng nhớ đời. Những món khóm xào phèo heo, xào gan heo, xào thịt bò,... đều ngon hấp dẫn. Khóm nấu canh chua cá lóc với đậu bắp, giá sống, bạc hà, cà chua... làm tôn thêm sức quyến rũ của món canh nổi tiếng Nam Bộ.

Cùng với một vài rau cải, tàu hủ, khóm còn được làm thành món chay khiến bữa cơm thêm phần thú vị. Hòa cùng bao mùi vị khác, mùi vị đặc trưng của khóm như bật lên nét duyên êm ả. Người ta còn cho khóm vào máy xay sinh tố hoặc ép lấy nước cốt, để trong tủ lạnh đều là thức uống lạnh ngọt khó quên sau bữa cơm.

Trong Đông y, khóm tính bình, giúp tiêu hóa, chống viêm, tẩy độc. Để chữa sỏi thận, người ta dùng nước ép của khóm nướng cháy vỏ trộn với trứng gà, đánh nhuyễn hoặc dùng khóm xắt miếng nấu nhừ với phèn chua vừa ăn cái vừa uống nước. Khóm gọt bỏ vỏ, bỏ mắt, ép lấy nước uống nhiều lần trong ngày có tác dụng nhuận trường. Người ta còn cho rằng ăn khóm hằng ngày giúp hạ huyết áp, có lợi cho tim mạch, phòng ngừa tai biến...

Theo Phương Kiều (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!