(CLO) - Đến với biên cương Hà Giang vào mùa hoa cải hay mùa tam giác mạch, người ta sẽ thật khó quên nụ cười của những thiếu nữ Lô Lô trên miền di sản Đồng Văn.
Bên nhịp trống trầm hùng, điệu múa của những bà, những chị, những em gái Lô Lô còn quá đỗi nguyên sơ sẽ làm say lòng bao du khách. “Hỡi những người Lô Lô cổ/Và Clao già ở đất này/Đã phát rẫy làm nương/Đã khai thiên lập địa/Sinh ra mảnh đất đầu tiên/Sinh ra các hang/Đẻ ra các động…”.
Đó là lời văn trong bài cúng lễ, kể chuyện tổ tiên người Lô Lô cổ đưa con cháu men theo rông đá tìm xuống mảnh đất lành phương Nam trú ngụ. Họ được coi là những người có công đầu khai phá vùng đất Đồng Văn nên ngày nay, các dân tộc khác ở Đồng Văn như Mông, Dao, Tày, Hoa… vẫn thường tổ chức cúng ma Lô Lô để tỏ lòng biết ơn người đi trước.
Đời nối đời bảo vệ biên cương
Lô Lô là một dân tộc có số dân khá khiêm tốn, song họ lại có một bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa rực rỡ. Tùy theo trang phục và tập quán, người Lô Lô được chia thành bốn ngành là Đen, Trắng, Đỏ và Hoa. Đồng bào phân bố chủ yếu ở các huyện biên giới như Mèo Vạc, Đồng Văn, Bắc Mê… tỉnh Hà Giang hay Bảo Lâm, Bảo Lạc… tỉnh Cao Bằng và Mường Khương của tỉnh Lào Cai. Bà con sống chủ yếu bằng nghề làm nương, cuốc rẫy và một vài nghề phụ khác. Hiền lành và chăm chỉ, song ý chí cộng đồng và nghị lực vượt khó, biết vươn lên của những người anh em Lô Lô thực sự rất đáng trân trọng. Hẳn vì vậy mà dân ca Mông có câu “Mưa nhẹ trên đường phố/Chó sủa Lô Lô về” với hàm ý ám chỉ đường ăn nết ở nhẹ nhàng, khéo léo và hay mỉm cười của những người Lô Lô trong vùng.
Trên cánh đồng Thèn Pả, nơi có đỉnh núi Rồng và ngọn cờ Lũng Cú kiêu hãnh bay trên nóc nhà Tổ quốc là chòm bản bình yên của 70 hộ dân Lô Lô Chải. Nhà dựng sát nhà, mái kề liền mái và những dãy hàng rào đá chạy bao quanh. Theo sử sách ghi lại, vùng đất Lũng Cú từ xa xưa vẫn luôn được các triều đại phong kiến coi là một trong những vùng đất tiền đồn có vai trò quan trọng ở phía Bắc.
Tương truyền rằng, Thái úy Lý Thường Kiệt đã có lần hội quân lớn ở đây nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí bảo vệ biên cương, bờ cõi. Lịch sử cũng đã ghi nhận ở mảnh đất phên giậu của Tổ quốc này, đồng bào các dân tộc Lô Lô, Pu Péo, Mông, Dao, Giáy trải qua không biết bao nhiêu biến loạn và đã đoàn kết, cùng nhau chống lại kẻ thù xâm lược quê hương Việt Nam suốt mấy nghìn năm. Còn hôm nay, trong bóng cờ bay, mỗi nếp nhà như một chốt canh lặng lẽ nơi biên ải. Nhiều con em của đồng bào Lô Lô đã phấn đấu học tập, trở thành những cán bộ mẫn cán, góp phần gìn giữ sự bình yên cho chính quê hương mình.
Gia đình cụ Lù Thị Điển ở đầu bản Lô Lô Chải là một trong hai gia đình còn lưu giữ được vật báu của dân tộc mình qua hàng trăm năm. Tự hào là những chủ nhân đầu tiên của vùng đất cực Bắc, người Lô Lô còn là chủ nhân của những chiếc trống đồng có nguồn gốc từ trống đồng Đông Sơn. Có nhiều cách lý giải về sự xuất hiện của trống đồng nơi đây, song, câu chuyện được lưu truyền nhiều nhất là vào thời Tây Sơn, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt ở nơi biên cương hiểm trở này một chiếc trống lớn, để khi có giặc thì nổi trống báo hiệu cho quân triều đình đến ứng cứu. Đó không chỉ là hiệu lệnh, là phương tiện thông tin của quân đội Tây Sơn, mà còn như một sự khẳng định chủ quyền của đất nước. Đời này qua đời khác, dân tộc Lô Lô đã góp phần bảo vệ vẹn toàn mảnh đất biên cương, bảo vệ vật thiêng dẫu cuộc sống còn nhiều neo khó.
Qua thời gian, giờ chỉ còn lại một cặp trống có niên đại ước chừng 600 năm đã mòn vẹt. Với người Lô Lô thì trống đồng là biểu tượng của vũ trụ, của con người. Trống chỉ được dùng vào việc tế trời đất, cúng ma cho người chết và nhảy múa trong Lễ cúng tổ tiên vào tháng Bảy âm lịch. Theo khảo sát, người Lô Lô có tới 36 điệu đánh trống đồng để giữ nhịp cho các bài múa. Âm hưởng trầm vang của trống có ảnh hưởng rất lớn đến phong tục tập quán, và dân ca, dân vũ. Trong ngày hội vui, người Lô Lô mới đem những chiếc trống cổ cùng những vũ điệu nguyên sơ ra để trình diễn như một phức điệu đẹp của núi rừng, của tấm lòng tôn kính tổ tiên và cùng cầu mong cho mọi gia đình hạnh phúc, mạnh khỏe.
Rực rỡ những sắc màu văn hóa
Mỗi người phụ nữ Lô Lô khi đi dự hội, trang phục bao giờ cũng rất cầu kì với khăn đội đầu, áo, quần, dây lưng, yếm quần, khăn tay, xà cạp và những trang sức bằng bạc để tô điểm như hạt cườm, hoa tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn, dây xà tích. Họ quan niệm rằng lúc nào cũng phải diện thật đẹp để “Sống để thiên hạ khen/Chết cho tổ tiên mừng...”. Nếu bộ quần áo của phụ nữ nhóm Lô Lô Đen ở bản Lô Lô Chải khá cầu kỳ với nhiều lớp khăn áo thì trang phục của phụ nữ Lô Lô Hoa ở Sủng Là đơn giản hơn với những mảnh ghép nhiều màu hình tam giác. Ngay cả chiếc khăn đội đầu của họ cũng ẩn chứa những quan niệm về vũ trụ và cuộc sống. Loại thứ nhất thể hiện cho bầu trời cùng các vị thần tinh tú là biểu tượng của thần Kết Dơ, thần cai quản vũ trụ, tạo ra con người. Một kiểu khác thể hiện cho sự chuyển biến tuần hoàn của không gian, thời gian là hình tượng thần Mít Dơ, thần cai quản mặt đất, che chở con người.
Bà Lò Thị Mỷ, người phụ nữ Lô Lô đầu tiên đã vượt qua hủ tục để học tập và góp sức xây dựng quê hương cho biết, dân tộc mình khuyến khích con cháu thuộc mỗi vùng, mỗi ngành sáng tạo ra các loại trang phục đẹp dựa trên nguyên gốc để dễ nhận dạng và dễ phân biệt nhau khi giao lưu trong các cuộc lễ. Nhưng yêu cầu nhất thiết là phải giữ hoa văn hình tam giác cho dù là bằng phương pháp thêu tay hay chắp hình vải. Bởi lẽ hoa văn hình tam giác là biểu tượng của vương quốc cổ xưa. Điều lý thú là bất cứ loại hoa văn nào cũng gắn với những câu chuyện trong quá khứ… Phải chăng đó là một cách lưu truyền lịch sử rất hữu hiệu qua tiềm thức của các thế hệ người Lô Lô.
Việc người con gái của dân tộc này phải khéo tay trồng bông, dệt vải là một trong những yêu cầu quan trọng nhất để các ông bố, bà mẹ chọn dâu và những chàng trai Lô Lô kén vợ. Hẳn là vì thế mà dẫu ngày nay, phiên chợ Đồng Văn họp vào sáng chủ nhật vẫn có bán nhiều phẩm màu cao cấp, nhưng những phụ nữ Lô Lô vẫn chuộng loại vải do chính tay mình dệt nên và nhuộm từ những loại củ, loại lá kiếm được trong rừng để tạo thành những bộ váy áo đẹp hơn sắc hoa rừng buổi sớm. Chính vì phải dụng công, dụng tâm như thế nên những cô gái Lô Lô cũng hết sức tự hào về nét duyên độc đáo trên khăn áo của dân tộc mình.
Hoạt động bảo tồn và phát huy tốt truyền thống văn hóa cũng như phong tục tập quán thực sự là yếu tố đáng trân trọng của cộng đồng dân tộc Lô Lô. Song cũng có những hủ tục mà vì nó khiến bà con đối mặt với nhiều hệ lụy giống nòi như tục hôn nhân cận huyết. Nhiều bản hiện vẫn còn trường hợp anh em họ gần lấy nhau vì cho rằng, lấy nhau trong họ thì vợ không bỏ trốn, không phải mất của gả bán ra bên ngoài nên nhiều thanh niên Lô Lô có tầm vóc rất thấp bé và thường xuyên đau ốm, đó là dấu hiệu suy thoái nòi giống do hôn nhân cận huyết gây ra.
Mấy năm gần đây, bằng sự vào cuộc của các cấp chính quyền, đoàn thể, nhiều thanh niên Lô Lô đi tìm bạn đời ở nơi xa hoặc các dân tộc khác. Các hoạt động giao lưu văn hóa - thể thao giúp bà con thu nhận được nhiều tri thức mới và tự sàng lọc những phong tục tập quán tiến bộ và các giá trị văn hóa tốt đẹp để bảo tồn và phát huy. Những sự thay đổi ấy đã giúp cho cộng đồng này dần vượt qua được những thử thách để tiếp tục vươn lên, khẳng định vai trò của những công dân gương mẫu nơi biên cương xa xôi, cách trở.
Gần đây, Dự án bảo tồn làng, bản, buôn truyền thống do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch triển khai đã chọn bản Lô Lô Chải để bảo tồn, tôn tạo một số ngôi nhà cổ, xây dựng cảnh quan môi trường sinh thái, thành lập đội văn nghệ và phục dựng các lễ hội truyền thống. Lời ca bay qua thung sâu, núi cao, nhờ gió nhắn rằng trên biên cương hôm nay, người Lô Lô vẫn vững vàng với vai trò là chủ nhân của vùng đất thiêng nơi cực Bắc. Điệu múa trống đồng vẫn thường được bà con biểu diễn trong những ngày lễ hội hay phục vụ nhu cầu thưởng thức của du khách phương xa. Nếu tiếng trống năm xưa dùng để báo tin giặc giã, ngọn nến năm xưa lập mưu đánh đuổi kẻ thù thì ngọn đuốc hôm nay là niềm vui chiến thắng, tiếng trống đang vang lên lúc này là một nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Lô Lô. Tiếng trống thay cho lời hứa quyết tâm giữ gìn mảnh đất cha ông để lại. Quyết tâm của một dân tộc chiến thắng!
Theo Vân Phạm (Báo Công Lý)
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014
Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014
Bản làng giữa lưng chừng trời
(TTO) - Trung tâm xã Ngọc Linh, Mường Hoong nằm dưới hai thung lũng màu mỡ và tương đối bằng phẳng của dãy núi Ngọc Linh quanh năm mây mù. Tuy nhiên hầu hết cư dân của hai thung lũng này lại co cụm tại các ngôi làng nằm giữa lưng chừng núi.
Xế chiều, sau nhiều giờ chạy xe rã rời từ trung tâm huyện Đắk Glei vượt núi lên đến trung tâm thung lũng Mường Hoong, chúng tôi được một người dân từ TP Kon Tum vào Mường Hoong buôn bán cho ở nhờ. Khi nghe chúng tôi nói muốn lên làng Tu Chiêu - một ngôi làng nằm ngược trên đỉnh núi phía sau lưng UBND xã Mường Hoong, anh Hoàn - người chủ nhà tốt bụng - liền ngăn lại: “Không lên được đó đâu, muốn đi phải là người quen leo núi hoặc phải kèm theo thuốc dấu”.
Sống giữa lưng chừng núi
Ở cheo leo trên đỉnh mây mù, cuộc sống gần như tách biệt với bên ngoài. Người dân ở Tu Chiêu và các làng cho biết lâu lâu họ mới đi bộ xuống xã một lần để mua nhu yếu phẩm. Đường lên làng chỉ là một lối đi nhỏ men theo các kẽ đá, dốc dựng đứng không một thứ phương tiện nào có thể đi nổi ngoài đôi chân trần. Cuộc sống ở trên các ngôi làng chủ yếu là tự cung tự cấp. Nhiều thầy cô giáo ban đầu khi lên núi dạy học thấy đàn ông Xê Đăng chụm lại ba bốn người khiêng chiếc máy xát lúa nặng mấy tạ, tha từng bậc ngược lên núi thì phải há hốc mồm ngạc nhiên; hay những ngày cả làng đứng ra góp sức khiêng đá, khiêng gạch, cõng từng thanh sắt, từng tấm tôn từ chân núi lên làng dựng trường cho con em làm chỗ học... Tất cả đều được thực hiện bằng sự bền bỉ, sức khỏe và dẻo dai cũng như lòng hiếu học của người dân trên rẻo cao.
< Người dẫn đường tý hon Hồ Văn Hời.
Nhiều thầy cô giáo và cán bộ người Kinh ở Mường Hoong nói rằng trước đây khi cán bộ người Kinh mới về Mường Hoong công tác hoặc thầy cô giáo được phân về các điểm trường, để có thể đủ sức leo núi lên các ngôi làng, nhiều người phải thủ một thứ bảo bối đặc biệt: củ đắng. Củ đắng là tên gọi của người địa phương ám chỉ củ sâm Ngọc Linh với công năng diệu kỳ, người leo núi khi kiệt sức chỉ cần một hạt nhỏ có thể nhanh chóng lấy lại sức lực, tăng sự bền bỉ. Lâu dần, những con đường dài vắt qua các dãy núi và dựng đứng cũng được các thầy cô giáo quen dần nên chuyện leo núi đã trở thành công việc đều đặn hằng tuần của các thầy cô giáo khi ngược núi lên các ngôi làng dạy chữ cho học sinh.
Từ trung tâm xã Mường Hoong, theo chân thầy giáo Minh - phụ trách ở điểm trường Tu Chiêu - thuộc Trường tiểu học Mường Hoong (huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum), chúng tôi ngược lên cụm làng Tu Chiêu. Trong tổng số hàng chục ngôi làng thuộc xã Mường Hoong thì Tu Chiêu không phải là nơi heo hút nhất, nhưng điểm làng ở đây tập trung đông người Xê Đăng và đường sá phải xuyên qua các dãy núi dựng đứng. Thầy giáo Minh cho biết ngày đầu tiên được phân về dạy chữ cho học sinh trên đỉnh núi, khi được thầy giáo hỏi đường lên làng thì một người dân địa phương chỉ tay lên đỉnh mây mù và đáp: “Làng ở trên đó, cũng gần thôi”. Tuy nhiên, khi thầy giáo “bò” lên đến nơi thì mưa đã kín núi, mất tới mấy tiếng đồng hồ. “Giờ tụi mình quen rồi, nếu không có việc gì gấp gáp thì cứ đầu tuần cõng cơm gạo đi, cuối tuần lại xuống núi, mỗi lần đi như thế mất khoảng hai giờ leo núi” - thầy Minh nói.
< Những người Xê Đăng cõng heo ngược núi lên làng.
Đường lên làng Tu Chiêu phải đi qua nhiều ngôi làng khác. Hầu hết những ngôi làng này khi chúng tôi đi qua người dân đều đứng lại nhìn với tất cả sự lạ lẫm. Thầy Minh cho biết dù sống trên đỉnh núi nhưng người dân các làng rất cảnh giác với người lạ nơi khác đến. Tại các ngôi làng này, người dân đều tập trung làm nhà theo hình vòng tròn lấy nhà rông làm trung tâm ở giữa. Điều khá đặc biệt ở những ngôi làng này là trước cổng ra vào người dân đều dựng các cây nêu lớn, thân cây được nướng cháy đen và đục chạm những hình thù kỳ quái để ngăn ma quỷ vào quấy phá người làng. Hai giờ lội rừng, khi thân thể chúng tôi rã rời, xương cốt như lìa mỗi nơi mỗi khúc thì thầy giáo Minh chạy lên một mô đá cao nhất và chỉ tay vào một mái nhà rông thông báo: “Đã tới Tu Chiêu”. Từ xa nhìn tới, Tu Chiêu hiện ra huyền bí dưới làn sương dày đặc. Dưới lưng chừng núi, mái nhà rông hiện lên dưới lớp mây mù như con vật khổng lồ đứng che chắn cho những mái nhà gỗ xung quanh. Cổng làng Tu Chiêu được người dân rào chắn cẩn thận, lối đi vào được bọc hai thân gỗ lớn, trên thân gỗ này những chiếc răng thú lớn được giắt và khoét sâu tạo thành những mặt người ám ảnh như những bóng ma quỷ đứng canh chừng ngôi làng.
Uống rượu như nước, nhai thuốc như cơm
< Người Xê Đăng uống rượu như uống nước.
Gần một tuần lang thang trên các ngôi làng trên đỉnh Ngọc Linh, một trong những điều khiến chúng tôi ấn tượng và đôi lúc ám ảnh nhất là rượu. Người Xê Đăng không chỉ xứng đáng là những người leo núi giỏi nhất mà còn là những người uống rượu vô địch thiên hạ: người dân nơi đây uống rượu không biết say, không tính chai, tính lít mà tính... theo ngày như cách nói của A Tiên - phó bí thư Đảng ủy xã Ngọc Linh, khi mời chúng tôi ở lại thưởng thức món rượu nấu từ lúa bọc thép: “Mình uống không biết say, không tính chai mà tính theo ... số ngày”.
Xế chiều, cơn mưa rừng bắt đầu kéo đến đổ lên những nóc nhà làng Lê Toan. A Bú - bí thư Đoàn thanh niên xã Ngọc Linh, người tình nguyện dẫn chúng tôi leo núi lên các ngôi làng - giục phải xuống núi gấp trước khi trời tối. Bỗng từ đâu trong túp lều gỗ, người đàn ông tuổi trung niên bước chân trái quẹo qua chân phải giọng lè nhè: “Về sớm thế, ở lại với làng uống rượu đã chứ”. Lấy lý do trời tối, mưa rừng trút xuống, A Bú bảo phải về gấp thì người này xua tay: “Ối, có mưa uống rượu nữa mới thích, nhà mình đang nấu rượu nếp, chẳng mấy khi lên đây cứ ngồi lại cho mình vui”. Không thể từ chối, chúng tôi đành phải ngồi lại để được người làng Lê Toan mời làm “thượng khách”. Trời mỗi lúc một sẩm tối, nhóm đàn ông làng Lê Toan lần lượt từ rừng trở về sau một ngày lên rẫy. Trong chốc lát, ngôi nhà của người đàn ông chật kín người. Chủ nhà A É lôi từ trong góc nhà ra một can rượu trắng 20 lít và khoe mới vừa cất ra khỏi lò, áp can rượu vào má vẫn còn nóng ran.
< Chị Tin một ngày nấu gần 100 lít rượu bán cho dân làng.
Uống! Đám đàn ông Lê Toan bắt đầu rót rượu ra bát và ngửa cổ nuốt ừng ực. Mồi nhắm chỉ là mấy quả dâu rừng (người địa phương gọi là vải dại) chấm với muối mặn chát. Rượu được rót liên tục, chỉ trong chốc lát người chúng tôi đã nóng bừng, ruột gan đảo lộn. A É nói rằng mỗi tuần sơ sơ làng Lê Toan uống phải hết ba bốn can rượu trắng. Người Xê Đăng uống rượu thay nước, uống mọi lúc mọi nơi. A É giọng bắt đầu lè nhè. “Mình uống rượu từ khi còn nhỏ, giờ không có rượu thấy buồn lắm, mà trong làng này ai cũng uống, con trai uống, con gái đàn bà cũng say. Lâu lâu mình nhờ người ta đi cuốc ruộng cho mình cũng phải mời người ta uống rượu chớ” - A É nói tiếp.
Sẩm tối, sau nhiều lần “xin tha” để về trung tâm xã, chúng tôi được độ nhậu tại làng Lê Toan thả và được hẳn một thanh niên thạo đường dẫn xuống núi. Đang loạng choạng, chuếnh choáng ở cái dốc dựng đứng dẫn ra khỏi làng thì bỗng ngay dưới bàn chân mình có hai cái đầu lù lù, hai cái đầu này ngước lên cười xòa: “Cán bộ về sớm thế, hôm nay con mình đi thi kể chuyện Bác Hồ được giải to, quay lên làng uống rượu với mình”.
Các thầy cô giáo tại Ngọc Linh nói rằng vào bất kỳ một ngôi làng Xê Đăng nào trên đỉnh Ngọc Linh cũng dễ thấy cảnh người dân bày hội để uống rượu. Rượu đối với người Xê Đăng là một thứ thức uống không thể thiếu hằng ngày như cơm ăn, áo mặc. Người Xê Đăng uống rượu từ nhỏ tới lớn. Không chỉ rượu mà còn trầu và thuốc. Lớn lên đàn bà đàn ông ai nấy răng đều đen xỉn vì lá thuốc. Khác với người Kinh, người Xê Đăng không đưa thuốc vào cơ thể bằng cách hút lấy hơi mà nhai. Đến mùa lá, người dân chọn những tấm lá thuốc ngon nhất rồi treo ngược trên giàn bếp để hong khói. Khi đi rẫy, lên nương hoặc những lúc nhàn rỗi, tấm lá được xé ra bỏ vào miệng nhai ngon lành. Thứ bã lá thuốc còn được phết lên cơ thể như một thứ thuốc kỳ diệu của người Xê Đăng để trừ vắt, muỗi, ruồi vàng.
Theo Thái Bá Dũng (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Xế chiều, sau nhiều giờ chạy xe rã rời từ trung tâm huyện Đắk Glei vượt núi lên đến trung tâm thung lũng Mường Hoong, chúng tôi được một người dân từ TP Kon Tum vào Mường Hoong buôn bán cho ở nhờ. Khi nghe chúng tôi nói muốn lên làng Tu Chiêu - một ngôi làng nằm ngược trên đỉnh núi phía sau lưng UBND xã Mường Hoong, anh Hoàn - người chủ nhà tốt bụng - liền ngăn lại: “Không lên được đó đâu, muốn đi phải là người quen leo núi hoặc phải kèm theo thuốc dấu”.
Sống giữa lưng chừng núi
Ở cheo leo trên đỉnh mây mù, cuộc sống gần như tách biệt với bên ngoài. Người dân ở Tu Chiêu và các làng cho biết lâu lâu họ mới đi bộ xuống xã một lần để mua nhu yếu phẩm. Đường lên làng chỉ là một lối đi nhỏ men theo các kẽ đá, dốc dựng đứng không một thứ phương tiện nào có thể đi nổi ngoài đôi chân trần. Cuộc sống ở trên các ngôi làng chủ yếu là tự cung tự cấp. Nhiều thầy cô giáo ban đầu khi lên núi dạy học thấy đàn ông Xê Đăng chụm lại ba bốn người khiêng chiếc máy xát lúa nặng mấy tạ, tha từng bậc ngược lên núi thì phải há hốc mồm ngạc nhiên; hay những ngày cả làng đứng ra góp sức khiêng đá, khiêng gạch, cõng từng thanh sắt, từng tấm tôn từ chân núi lên làng dựng trường cho con em làm chỗ học... Tất cả đều được thực hiện bằng sự bền bỉ, sức khỏe và dẻo dai cũng như lòng hiếu học của người dân trên rẻo cao.
< Người dẫn đường tý hon Hồ Văn Hời.
Nhiều thầy cô giáo và cán bộ người Kinh ở Mường Hoong nói rằng trước đây khi cán bộ người Kinh mới về Mường Hoong công tác hoặc thầy cô giáo được phân về các điểm trường, để có thể đủ sức leo núi lên các ngôi làng, nhiều người phải thủ một thứ bảo bối đặc biệt: củ đắng. Củ đắng là tên gọi của người địa phương ám chỉ củ sâm Ngọc Linh với công năng diệu kỳ, người leo núi khi kiệt sức chỉ cần một hạt nhỏ có thể nhanh chóng lấy lại sức lực, tăng sự bền bỉ. Lâu dần, những con đường dài vắt qua các dãy núi và dựng đứng cũng được các thầy cô giáo quen dần nên chuyện leo núi đã trở thành công việc đều đặn hằng tuần của các thầy cô giáo khi ngược núi lên các ngôi làng dạy chữ cho học sinh.
Từ trung tâm xã Mường Hoong, theo chân thầy giáo Minh - phụ trách ở điểm trường Tu Chiêu - thuộc Trường tiểu học Mường Hoong (huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum), chúng tôi ngược lên cụm làng Tu Chiêu. Trong tổng số hàng chục ngôi làng thuộc xã Mường Hoong thì Tu Chiêu không phải là nơi heo hút nhất, nhưng điểm làng ở đây tập trung đông người Xê Đăng và đường sá phải xuyên qua các dãy núi dựng đứng. Thầy giáo Minh cho biết ngày đầu tiên được phân về dạy chữ cho học sinh trên đỉnh núi, khi được thầy giáo hỏi đường lên làng thì một người dân địa phương chỉ tay lên đỉnh mây mù và đáp: “Làng ở trên đó, cũng gần thôi”. Tuy nhiên, khi thầy giáo “bò” lên đến nơi thì mưa đã kín núi, mất tới mấy tiếng đồng hồ. “Giờ tụi mình quen rồi, nếu không có việc gì gấp gáp thì cứ đầu tuần cõng cơm gạo đi, cuối tuần lại xuống núi, mỗi lần đi như thế mất khoảng hai giờ leo núi” - thầy Minh nói.
< Những người Xê Đăng cõng heo ngược núi lên làng.
Đường lên làng Tu Chiêu phải đi qua nhiều ngôi làng khác. Hầu hết những ngôi làng này khi chúng tôi đi qua người dân đều đứng lại nhìn với tất cả sự lạ lẫm. Thầy Minh cho biết dù sống trên đỉnh núi nhưng người dân các làng rất cảnh giác với người lạ nơi khác đến. Tại các ngôi làng này, người dân đều tập trung làm nhà theo hình vòng tròn lấy nhà rông làm trung tâm ở giữa. Điều khá đặc biệt ở những ngôi làng này là trước cổng ra vào người dân đều dựng các cây nêu lớn, thân cây được nướng cháy đen và đục chạm những hình thù kỳ quái để ngăn ma quỷ vào quấy phá người làng. Hai giờ lội rừng, khi thân thể chúng tôi rã rời, xương cốt như lìa mỗi nơi mỗi khúc thì thầy giáo Minh chạy lên một mô đá cao nhất và chỉ tay vào một mái nhà rông thông báo: “Đã tới Tu Chiêu”. Từ xa nhìn tới, Tu Chiêu hiện ra huyền bí dưới làn sương dày đặc. Dưới lưng chừng núi, mái nhà rông hiện lên dưới lớp mây mù như con vật khổng lồ đứng che chắn cho những mái nhà gỗ xung quanh. Cổng làng Tu Chiêu được người dân rào chắn cẩn thận, lối đi vào được bọc hai thân gỗ lớn, trên thân gỗ này những chiếc răng thú lớn được giắt và khoét sâu tạo thành những mặt người ám ảnh như những bóng ma quỷ đứng canh chừng ngôi làng.
Uống rượu như nước, nhai thuốc như cơm
< Người Xê Đăng uống rượu như uống nước.
Gần một tuần lang thang trên các ngôi làng trên đỉnh Ngọc Linh, một trong những điều khiến chúng tôi ấn tượng và đôi lúc ám ảnh nhất là rượu. Người Xê Đăng không chỉ xứng đáng là những người leo núi giỏi nhất mà còn là những người uống rượu vô địch thiên hạ: người dân nơi đây uống rượu không biết say, không tính chai, tính lít mà tính... theo ngày như cách nói của A Tiên - phó bí thư Đảng ủy xã Ngọc Linh, khi mời chúng tôi ở lại thưởng thức món rượu nấu từ lúa bọc thép: “Mình uống không biết say, không tính chai mà tính theo ... số ngày”.
Xế chiều, cơn mưa rừng bắt đầu kéo đến đổ lên những nóc nhà làng Lê Toan. A Bú - bí thư Đoàn thanh niên xã Ngọc Linh, người tình nguyện dẫn chúng tôi leo núi lên các ngôi làng - giục phải xuống núi gấp trước khi trời tối. Bỗng từ đâu trong túp lều gỗ, người đàn ông tuổi trung niên bước chân trái quẹo qua chân phải giọng lè nhè: “Về sớm thế, ở lại với làng uống rượu đã chứ”. Lấy lý do trời tối, mưa rừng trút xuống, A Bú bảo phải về gấp thì người này xua tay: “Ối, có mưa uống rượu nữa mới thích, nhà mình đang nấu rượu nếp, chẳng mấy khi lên đây cứ ngồi lại cho mình vui”. Không thể từ chối, chúng tôi đành phải ngồi lại để được người làng Lê Toan mời làm “thượng khách”. Trời mỗi lúc một sẩm tối, nhóm đàn ông làng Lê Toan lần lượt từ rừng trở về sau một ngày lên rẫy. Trong chốc lát, ngôi nhà của người đàn ông chật kín người. Chủ nhà A É lôi từ trong góc nhà ra một can rượu trắng 20 lít và khoe mới vừa cất ra khỏi lò, áp can rượu vào má vẫn còn nóng ran.
< Chị Tin một ngày nấu gần 100 lít rượu bán cho dân làng.
Uống! Đám đàn ông Lê Toan bắt đầu rót rượu ra bát và ngửa cổ nuốt ừng ực. Mồi nhắm chỉ là mấy quả dâu rừng (người địa phương gọi là vải dại) chấm với muối mặn chát. Rượu được rót liên tục, chỉ trong chốc lát người chúng tôi đã nóng bừng, ruột gan đảo lộn. A É nói rằng mỗi tuần sơ sơ làng Lê Toan uống phải hết ba bốn can rượu trắng. Người Xê Đăng uống rượu thay nước, uống mọi lúc mọi nơi. A É giọng bắt đầu lè nhè. “Mình uống rượu từ khi còn nhỏ, giờ không có rượu thấy buồn lắm, mà trong làng này ai cũng uống, con trai uống, con gái đàn bà cũng say. Lâu lâu mình nhờ người ta đi cuốc ruộng cho mình cũng phải mời người ta uống rượu chớ” - A É nói tiếp.
Sẩm tối, sau nhiều lần “xin tha” để về trung tâm xã, chúng tôi được độ nhậu tại làng Lê Toan thả và được hẳn một thanh niên thạo đường dẫn xuống núi. Đang loạng choạng, chuếnh choáng ở cái dốc dựng đứng dẫn ra khỏi làng thì bỗng ngay dưới bàn chân mình có hai cái đầu lù lù, hai cái đầu này ngước lên cười xòa: “Cán bộ về sớm thế, hôm nay con mình đi thi kể chuyện Bác Hồ được giải to, quay lên làng uống rượu với mình”.
Các thầy cô giáo tại Ngọc Linh nói rằng vào bất kỳ một ngôi làng Xê Đăng nào trên đỉnh Ngọc Linh cũng dễ thấy cảnh người dân bày hội để uống rượu. Rượu đối với người Xê Đăng là một thứ thức uống không thể thiếu hằng ngày như cơm ăn, áo mặc. Người Xê Đăng uống rượu từ nhỏ tới lớn. Không chỉ rượu mà còn trầu và thuốc. Lớn lên đàn bà đàn ông ai nấy răng đều đen xỉn vì lá thuốc. Khác với người Kinh, người Xê Đăng không đưa thuốc vào cơ thể bằng cách hút lấy hơi mà nhai. Đến mùa lá, người dân chọn những tấm lá thuốc ngon nhất rồi treo ngược trên giàn bếp để hong khói. Khi đi rẫy, lên nương hoặc những lúc nhàn rỗi, tấm lá được xé ra bỏ vào miệng nhai ngon lành. Thứ bã lá thuốc còn được phết lên cơ thể như một thứ thuốc kỳ diệu của người Xê Đăng để trừ vắt, muỗi, ruồi vàng.
Theo Thái Bá Dũng (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014
Truyện kể Bác Ba Phi
Không riêng gì bà con vùng đất Cà Mau, nói đến chuyện kể bác Ba Phi, hầu như ai cũng biết. Những câu chuyện kể của bác Ba hết sức sống động, vừa huyền thoại vừa kịch tính, đã góp phần rất lớn vào kho tàng Văn học dân gian Nam Bộ.
< Di ảnh bác Ba Phi (1884- 1964).
Tại Hội thảo khoa học Chuyện cười dân gian bác Ba Phi được Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức năm 2002, các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị nghệ thuật của chuyện bác Ba Phi mang đậm nét đặc trưng của làng quê Nam Bộ. Trong những câu chuyện kể ấy, tiếng cười sảng khoái, vui tươi, gắn chặt với đồng ruộng, chim thú, cây rừng..., mang giá trị nghệ thuật cao như: Bắt chim sen, Chọi đá làm máy bay rơi, Leo cây ớt té gãy chân, Le le tập thể dục, Tàu rùa chạy nhanh như tàu máy, Rắn hổ mây tát nước đìa bắt cá…
Bác Ba Phi (Nguyễn Long Phi) được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam truy tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, truy tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian năm 2003. Ông sinh năm 1884, tại ấp Rạch Mũi, xã Cái Rắn, huyện Cái Nước. Sau khi sinh ông, ba mẹ ông do tránh sự truy đuổi bắt lính, phạt vạ và quấy rối của đám quan quân thời chúa Nguyễn đã chạy dạt sang trú ngụ tận Kinh Ngang, thuộc xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời ngày nay. Bác Ba là một lực điền giỏi võ và mê đờn ca tài tử, đặc biệt rất giỏi đờn cò.
Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế- một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe, ông được Hương quản Tế hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó, nên sau ba năm thì ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người con rể và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng ra cưới vợ hai cho chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ Hải. Không rõ lý do gì mà khi Nguyễn Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời.
Ông Nguyễn Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện của Bác Ba Phi thì đây là nhân vật thằng Đậu nổi tiếng với thành ngữ "Tệ như vợ thằng Đậu" được dùng để chỉ những người vụng về. Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer. Bà sinh được hai đứa con gái.
Bác Ba không chỉ nổi tiếng qua các câu chuyện kể in đậm cá tính người nông dân Nam Bộ mà còn thể hiện tư duy sáng tạo độc đáo qua từng chuyện kể. Những câu chuyện của bác luôn nói về tính cách con người vùng đất U Minh kiên cường trước thiên nhiên khắc nghiệt, dù là kể chuyện tếu lâm hay chuyện dóc nhưng những chuyện bác Ba hiến kế cho bộ đội đánh giặc là có thật.
Bác Ba vốn là người vui tính, lạc quan. Ngay từ lúc nhỏ, mặc dù không biết chữ nhưng Bác lanh trí và thông minh, nên sau hầu hết những câu chuyện bác kể, dù là chuyện dóc do bác suy nghĩ, liên tưởng hay nhân cách hoá chăng nữa, thì ai nghe kể đều cười vui, hả lòng hả dạ vì thấy có tình, có lý. Những năm đầu của thập niên 60, chuyện kể bác Ba Phi xuất hiện như một hiện tượng lạ, lý thú, cuốn hút mọi đối tượng, kể cả các đồng chí giao liên và các chiến sĩ ngoài mặt trận.
Bác Ba Phi qua đời vào ngày 3/11/1964, tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, nay là Kinh Ngang, ấp Lung Tràm, xã Khánh Hải. Ngôi mộ của bác hiện nằm giữa 2 ngôi mộ của 2 người vợ Trần Thị Lữ và Lữ Thị Cham.
Bác Ba mất đi nhưng đã để lại một kho tàng truyện tếu lâm cho thế hệ sau. Kho tàng văn hoá phi vật thể ở Cà Mau, trong đó có hệ thống chuyện kể bác Ba Phi là kết quả của quá trình lao động, sáng tạo của bác và cộng đồng cư dân Cà Mau.
Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lịch văn hóa của tỉnh Cà Mau. Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi. Đồng thời, nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi mở đất, tính cách đặt trưng, lòng yêu thiên nhiên và con người của người dân Nam Bộ.
Tổng hợp từ Báo Cà Mau, sách: "Cà Mau điểm hẹn"...
Du lịch, GO!
< Di ảnh bác Ba Phi (1884- 1964).
Tại Hội thảo khoa học Chuyện cười dân gian bác Ba Phi được Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức năm 2002, các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị nghệ thuật của chuyện bác Ba Phi mang đậm nét đặc trưng của làng quê Nam Bộ. Trong những câu chuyện kể ấy, tiếng cười sảng khoái, vui tươi, gắn chặt với đồng ruộng, chim thú, cây rừng..., mang giá trị nghệ thuật cao như: Bắt chim sen, Chọi đá làm máy bay rơi, Leo cây ớt té gãy chân, Le le tập thể dục, Tàu rùa chạy nhanh như tàu máy, Rắn hổ mây tát nước đìa bắt cá…
Bác Ba Phi (Nguyễn Long Phi) được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam truy tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, truy tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian năm 2003. Ông sinh năm 1884, tại ấp Rạch Mũi, xã Cái Rắn, huyện Cái Nước. Sau khi sinh ông, ba mẹ ông do tránh sự truy đuổi bắt lính, phạt vạ và quấy rối của đám quan quân thời chúa Nguyễn đã chạy dạt sang trú ngụ tận Kinh Ngang, thuộc xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời ngày nay. Bác Ba là một lực điền giỏi võ và mê đờn ca tài tử, đặc biệt rất giỏi đờn cò.
Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế- một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe, ông được Hương quản Tế hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó, nên sau ba năm thì ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người con rể và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng ra cưới vợ hai cho chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ Hải. Không rõ lý do gì mà khi Nguyễn Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời.
Ông Nguyễn Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện của Bác Ba Phi thì đây là nhân vật thằng Đậu nổi tiếng với thành ngữ "Tệ như vợ thằng Đậu" được dùng để chỉ những người vụng về. Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer. Bà sinh được hai đứa con gái.
Bác Ba không chỉ nổi tiếng qua các câu chuyện kể in đậm cá tính người nông dân Nam Bộ mà còn thể hiện tư duy sáng tạo độc đáo qua từng chuyện kể. Những câu chuyện của bác luôn nói về tính cách con người vùng đất U Minh kiên cường trước thiên nhiên khắc nghiệt, dù là kể chuyện tếu lâm hay chuyện dóc nhưng những chuyện bác Ba hiến kế cho bộ đội đánh giặc là có thật.
Bác Ba vốn là người vui tính, lạc quan. Ngay từ lúc nhỏ, mặc dù không biết chữ nhưng Bác lanh trí và thông minh, nên sau hầu hết những câu chuyện bác kể, dù là chuyện dóc do bác suy nghĩ, liên tưởng hay nhân cách hoá chăng nữa, thì ai nghe kể đều cười vui, hả lòng hả dạ vì thấy có tình, có lý. Những năm đầu của thập niên 60, chuyện kể bác Ba Phi xuất hiện như một hiện tượng lạ, lý thú, cuốn hút mọi đối tượng, kể cả các đồng chí giao liên và các chiến sĩ ngoài mặt trận.
Bác Ba Phi qua đời vào ngày 3/11/1964, tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, nay là Kinh Ngang, ấp Lung Tràm, xã Khánh Hải. Ngôi mộ của bác hiện nằm giữa 2 ngôi mộ của 2 người vợ Trần Thị Lữ và Lữ Thị Cham.
Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lịch văn hóa của tỉnh Cà Mau. Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi. Đồng thời, nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi mở đất, tính cách đặt trưng, lòng yêu thiên nhiên và con người của người dân Nam Bộ.
Tổng hợp từ Báo Cà Mau, sách: "Cà Mau điểm hẹn"...
Du lịch, GO!
Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014
Những ngôi làng lạ lùng...
(NLĐ) - Những năm 60 của thế kỷ trước, xuất phát từ đàn chó nuôi mắc bệnh dại cắn làm nhiều người dân ở xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An chết. Kinh hãi về bệnh dại, kể từ đó tới nay đã hơn 50 năm, người dân xã này cùng nhau lập hương ước không nuôi chó.
< Đường làng xã Diễn Nguyên vắng bóng các chú chó đã 50 năm nay.
Người Việt Nam có thói quen nuôi chó, trước để giữ nhà, sau bầu bạn. Vì vậy, tiếng chó sủa đã quá quen thuộc, nhất là ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, có một vùng quê ở Nghệ An, tiếng chó sủa đã mất hẳn từ hơn 50 năm qua.
Trận dịch dại kinh hoàng
Về xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An hôm nay cảm giác yên ả bao trùm. Đi trên những con đường bê-tông sạch bóng, chúng tôi ghé thăm các xóm trong xã như Tân Châu, Tân Cảnh, Tân Phong, Tân Ninh…Đi tới đâu, ghé thăm nhà nào cũng không thấy bóng dáng các chú chó như ở những vùng quê khác.
Theo các vị cao niên trong làng kể lại thì ở xã này, từ mấy chục năm rồi không nuôi chó, xuất phát từ việc một số người dân trong làng bị chó nuôi phát bệnh dại cắn dẫn đến tử vong. Cụ Đào Thị Thuyết (85 tuổi, ngụ xóm Tân Châu) nhớ lại: “Cũng như nhiều nơi khác, ngày xưa nhà nào cũng nuôi chó để giữ nhà. Năm 1962, bệnh dại bùng phát trên đàn chó nuôi. Chó dại cắn cụ cố Phiên trong xóm và một số người khác. Do không được chữa trị kịp thời, tất cả họ đều chết. Lo sợ bệnh dại nên từ đó người dân trong xóm, xã thống nhất với nhau không nuôi chó nữa”.
Một lý do khác mà người dân xã Diễn Nguyên đã hơn 50 năm nay nói không với việc nuôi chó là do chó thả rông phóng uế khắp đường làng, ngõ xóm làm mất vệ sinh và có khi dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, mất tình cảm giữa hàng xóm láng giềng với nhau. Cụ Nguyễn Văn Hồng (90 tuổi, xóm Tân Châu) lý giải: “Nhà nào cũng nuôi 2-3 con chó, cứ thấy người lạ là lao ra cắn. Muốn đi thăm anh em, làng xóm nhưng nghĩ tới cảnh đàn chó dữ là sợ không dám sang nhà chơi. Nuôi chó đúng như cha ông mình vẫn nói “chó dữ mất láng giềng”.
Cũng theo cụ Hồng, từ khi xóm làng không nuôi chó thì người già ra đường không sợ chó cắn, trẻ nhỏ đêm, ngày ngủ ngon giấc bởi không bị giật mình do tiếng chó sủa.
Hương ước kỳ lạ
Ông Nguyễn Bội (87 tuổi, ngụ xóm 7, nguyên Chủ tịch UBND xã đầu tiên của xã Diễn Nguyên) nhớ lại: Sau đợt chó dại cắn làm nhiều người chết, dân làng thống nhất với nhau là xử lý toàn bộ số chó còn sống đồng thời đặt ra hương ước không nuôi chó, ai nuôi sẽ bị phạt. Từ đó tới nay đã trên 50 năm, người dân trong xã không ai bảo ai nhưng đều chấp hành hương ước này một cách nghiêm túc.
Ông Trần Ngọc Sanh, Phó Chủ tịch UBND xã Diễn Nguyên, cho biết: “Hương ước về việc không nuôi chó có từ những năm 1960 cho đến nay, người dân trong xã đều thực hiện nghiêm túc. Không nuôi chó, vệ sinh môi trường trên địa bàn xã luôn sạch sẽ, người dân không còn lo sợ bệnh dại, không có nạn trộm chó”.
Cũng theo ông Sanh, việc đưa ra hương ước không nuôi chó là hoàn toàn tự nguyện, người dân có quyền quyết định việc nuôi hay không nuôi. “Luật pháp không cấm nuôi chó, mới đây, một số người dân có ý kiến về việc này nên chúng tôi đã tổ chức lấy ý kiến và có đến 80% người dân đồng tình với việc không nuôi chó”.
Ông Ngô Quốc Khánh, Công an xã Diễn Nguyên, cho biết nhiều người lo ngại nếu không nuôi chó thì nạn trộm cắp sẽ hoành hành, tuy nhiên tại xã Diễn Nguyên, tình hình an ninh trên địa bàn trong những năm qua rất ổn định. “Ngoài ra, do người dân không nuôi chó nên không xảy ra nạn bắt trộm chó như nhiều địa phương khác” - ông Khánh cho hay.
Làng không ăn thịt chó
Đã hơn 15 năm nay, người dân làng Phú Dương, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam không ăn thịt chó. Ông Nguyễn Văn Thìn, Trưởng thôn Phú Dương, cho biết trước đây, người làng cũng ăn thịt chó như các địa phương khác nhưng sau cái chết thảm khốc của một phụ nữ trong làng thì người dân trong thôn đã cạch món này cho đến nay. Ông Thìn kể: Năm 1999, bà Nguyễn Thị Đ. lên ngọn núi Gò Thị đốn củi từ sáng sớm đến chiều tối vẫn không thấy về. Cả gia đình và chính quyền địa phương tổ chức đi tìm nhiều ngày liên tục.
< Người dân Phú Dương nuôi chó nhưng chẳng bao giờ giết thịt ăn.
Sau 1 tuần, thi thể bà Đ. được phát hiện nằm trong một đám mía nhưng không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại phần đầu và một phần xương chân. Trong khi gia đình tổ chức lễ tang cho bà Đ. thì nhiều người dân trong làng phát hoảng bởi những khúc xương của bà Đ. bị chó mang về nhà. Sự việc này khiến người dân trong làng hết sức kinh hãi, ám ảnh.
Bà Lê Thị Hòa (70 tuổi) rùng mình: “Kể từ thời điểm đó đến nay, tôi không bao giờ đụng đến miếng thịt chó, con cháu tôi cũng chẳng bao giờ ăn. Người dân ở đây vẫn nuôi chó nhưng không bao giờ giết thịt, chó có thể bán hoặc chết thì đem chôn”.
Ông Bùi Tuần, Chủ tịch UBND xã Quế Thuận, xác nhận chuyện người dân thôn Phú Dương không ăn thịt chó là có thật. “Chuyện này xuất phát từ cái chết của bà Đ. cách đây cũng đã lâu mà đến nay dường như đã trở thành thói quen. Không những thôn Phú Dương, một số thôn lân cận cũng như vậy” - ông Tuần cho hay.
Theo Đức Ngọc, Tr Thường (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
< Đường làng xã Diễn Nguyên vắng bóng các chú chó đã 50 năm nay.
Người Việt Nam có thói quen nuôi chó, trước để giữ nhà, sau bầu bạn. Vì vậy, tiếng chó sủa đã quá quen thuộc, nhất là ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, có một vùng quê ở Nghệ An, tiếng chó sủa đã mất hẳn từ hơn 50 năm qua.
Trận dịch dại kinh hoàng
Về xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An hôm nay cảm giác yên ả bao trùm. Đi trên những con đường bê-tông sạch bóng, chúng tôi ghé thăm các xóm trong xã như Tân Châu, Tân Cảnh, Tân Phong, Tân Ninh…Đi tới đâu, ghé thăm nhà nào cũng không thấy bóng dáng các chú chó như ở những vùng quê khác.Theo các vị cao niên trong làng kể lại thì ở xã này, từ mấy chục năm rồi không nuôi chó, xuất phát từ việc một số người dân trong làng bị chó nuôi phát bệnh dại cắn dẫn đến tử vong. Cụ Đào Thị Thuyết (85 tuổi, ngụ xóm Tân Châu) nhớ lại: “Cũng như nhiều nơi khác, ngày xưa nhà nào cũng nuôi chó để giữ nhà. Năm 1962, bệnh dại bùng phát trên đàn chó nuôi. Chó dại cắn cụ cố Phiên trong xóm và một số người khác. Do không được chữa trị kịp thời, tất cả họ đều chết. Lo sợ bệnh dại nên từ đó người dân trong xóm, xã thống nhất với nhau không nuôi chó nữa”.
Một lý do khác mà người dân xã Diễn Nguyên đã hơn 50 năm nay nói không với việc nuôi chó là do chó thả rông phóng uế khắp đường làng, ngõ xóm làm mất vệ sinh và có khi dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, mất tình cảm giữa hàng xóm láng giềng với nhau. Cụ Nguyễn Văn Hồng (90 tuổi, xóm Tân Châu) lý giải: “Nhà nào cũng nuôi 2-3 con chó, cứ thấy người lạ là lao ra cắn. Muốn đi thăm anh em, làng xóm nhưng nghĩ tới cảnh đàn chó dữ là sợ không dám sang nhà chơi. Nuôi chó đúng như cha ông mình vẫn nói “chó dữ mất láng giềng”.Cũng theo cụ Hồng, từ khi xóm làng không nuôi chó thì người già ra đường không sợ chó cắn, trẻ nhỏ đêm, ngày ngủ ngon giấc bởi không bị giật mình do tiếng chó sủa.
Hương ước kỳ lạÔng Nguyễn Bội (87 tuổi, ngụ xóm 7, nguyên Chủ tịch UBND xã đầu tiên của xã Diễn Nguyên) nhớ lại: Sau đợt chó dại cắn làm nhiều người chết, dân làng thống nhất với nhau là xử lý toàn bộ số chó còn sống đồng thời đặt ra hương ước không nuôi chó, ai nuôi sẽ bị phạt. Từ đó tới nay đã trên 50 năm, người dân trong xã không ai bảo ai nhưng đều chấp hành hương ước này một cách nghiêm túc.
Ông Trần Ngọc Sanh, Phó Chủ tịch UBND xã Diễn Nguyên, cho biết: “Hương ước về việc không nuôi chó có từ những năm 1960 cho đến nay, người dân trong xã đều thực hiện nghiêm túc. Không nuôi chó, vệ sinh môi trường trên địa bàn xã luôn sạch sẽ, người dân không còn lo sợ bệnh dại, không có nạn trộm chó”.
Cũng theo ông Sanh, việc đưa ra hương ước không nuôi chó là hoàn toàn tự nguyện, người dân có quyền quyết định việc nuôi hay không nuôi. “Luật pháp không cấm nuôi chó, mới đây, một số người dân có ý kiến về việc này nên chúng tôi đã tổ chức lấy ý kiến và có đến 80% người dân đồng tình với việc không nuôi chó”.
Ông Ngô Quốc Khánh, Công an xã Diễn Nguyên, cho biết nhiều người lo ngại nếu không nuôi chó thì nạn trộm cắp sẽ hoành hành, tuy nhiên tại xã Diễn Nguyên, tình hình an ninh trên địa bàn trong những năm qua rất ổn định. “Ngoài ra, do người dân không nuôi chó nên không xảy ra nạn bắt trộm chó như nhiều địa phương khác” - ông Khánh cho hay.
Làng không ăn thịt chó
Đã hơn 15 năm nay, người dân làng Phú Dương, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam không ăn thịt chó. Ông Nguyễn Văn Thìn, Trưởng thôn Phú Dương, cho biết trước đây, người làng cũng ăn thịt chó như các địa phương khác nhưng sau cái chết thảm khốc của một phụ nữ trong làng thì người dân trong thôn đã cạch món này cho đến nay. Ông Thìn kể: Năm 1999, bà Nguyễn Thị Đ. lên ngọn núi Gò Thị đốn củi từ sáng sớm đến chiều tối vẫn không thấy về. Cả gia đình và chính quyền địa phương tổ chức đi tìm nhiều ngày liên tục.
< Người dân Phú Dương nuôi chó nhưng chẳng bao giờ giết thịt ăn.
Sau 1 tuần, thi thể bà Đ. được phát hiện nằm trong một đám mía nhưng không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại phần đầu và một phần xương chân. Trong khi gia đình tổ chức lễ tang cho bà Đ. thì nhiều người dân trong làng phát hoảng bởi những khúc xương của bà Đ. bị chó mang về nhà. Sự việc này khiến người dân trong làng hết sức kinh hãi, ám ảnh.
Bà Lê Thị Hòa (70 tuổi) rùng mình: “Kể từ thời điểm đó đến nay, tôi không bao giờ đụng đến miếng thịt chó, con cháu tôi cũng chẳng bao giờ ăn. Người dân ở đây vẫn nuôi chó nhưng không bao giờ giết thịt, chó có thể bán hoặc chết thì đem chôn”.
Ông Bùi Tuần, Chủ tịch UBND xã Quế Thuận, xác nhận chuyện người dân thôn Phú Dương không ăn thịt chó là có thật. “Chuyện này xuất phát từ cái chết của bà Đ. cách đây cũng đã lâu mà đến nay dường như đã trở thành thói quen. Không những thôn Phú Dương, một số thôn lân cận cũng như vậy” - ông Tuần cho hay.
Theo Đức Ngọc, Tr Thường (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2014
Pa'nanh, vũ khí đánh giặc của người Cơtu
(DVO) - Từ ngày xưa, người Cơ Tu ở vùng núi Quảng Nam luôn xem chiếc ná (pa'nanh - nỏ) là vật dụng không thể thiếu trong hoạt động săn bắt thú rừng bảo vệ làng bản mà nó còn là thứ vũ khí chống giặc xâm lăng.
Được biết, từ dạo đồng bào Cơ Tu còn ở nhà sàn, ngoài công việc làm rẫy, săn thú rừng thì chiếc ná là vũ khí lợi hại của những người đàn ông Cơ Tu giữ đất, giữ làng, chống giặc ngoại xâm. Và cho đến hôm nay, đồng bào Cơ Tu dù đã có cuộc sống khấm khá hơn, nhưng chiếc ná vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào nơi đây.
Người Cơ Tu quan niệm cho rằng, bất kỳ đàn ông nào trong làng không biết sử dụng ná (pa'nanh) thì coi như chưa trưởng thành, những người bắn ná giỏi nhất rất được kính trọng.
Được biết với người Cơ Tu, chiếc ná là một vật dụng hết sức thiêng liêng, tượng trưng cho khả năng chinh phục thiên nhiên và sức mạnh của người đàn ông Cơ Tu. Chiếc ná (pa'nanh) lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của người Cơ Tu nên được các lão làng vẫn miệt mài chế tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu săn bắn.
Xưa kia, người Cơ Tu sống ở vùng rừng núi, hồi đó còn nhiều thú dữ nên phải sống ở nhà sàn, đi rừng, lên nương đều luôn mang theo ná và các vũ khí khác để phòng thân và săn thú chống lại sự phá hoa màu mà lại có thêm thức ăn cho gia đình. Ngay cả trẻ con và phụ nũa cũng sớm được làm quen với ná, tên và được người lớn đưa đi rừng.
Ná của người Cơ Tu thường có hai loại, phân biệt dựa theo chiều dài của cánh ná. Cũng dựa vào đó mà sẽ có mũi tên thích hợp cho từng loại. Thân ná được làm gỗ cứng như: rọi, cẩm lai. Cánh ná thì sử dụng các loại gỗ có tính đàn hồi như gỗ cau.
Ngày xưa, để làm một cây ná phải mất hàng tháng. Phải vào rừng tìm cây, rồi đánh dấu lại, đến một thời gian nhất định trong tháng mới đến đốn, vì khi đó chất gỗ sẽ săn chắc hơn tại có mùa gỗ bị mọt ăn, gẩy. Gỗ sau khi đốn được đem về đẵn ra thành từng bộ phận riêng biệt, rồi dùng một con dao mác nhỏ bằng ngón tay đẽo kỹ lại, công đoạn này phải mất ít nhất cả tháng.
Với người đàn ông Cơ Tu, họ đều luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ nét văn hóa truyền thống của cộng đồng, trong đó có chiếc ná (pa'nanh) và truyền cho các thế hệ sau để lưu giữ nét xưa.
Hằng năm, đồng bào Cơ Tu còn tổ chức các lễ hội ăn mừng lúa mới, tổ chức khánh thành Gươl mới của làng... Qua đó thường lồng các hoạt động như: thi bắn ná, thi chế tác ná để con cháu về sau hiểu hơn về nét văn hóa này.
Theo Nguyễn Văn Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Được biết, từ dạo đồng bào Cơ Tu còn ở nhà sàn, ngoài công việc làm rẫy, săn thú rừng thì chiếc ná là vũ khí lợi hại của những người đàn ông Cơ Tu giữ đất, giữ làng, chống giặc ngoại xâm. Và cho đến hôm nay, đồng bào Cơ Tu dù đã có cuộc sống khấm khá hơn, nhưng chiếc ná vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào nơi đây.
Người Cơ Tu quan niệm cho rằng, bất kỳ đàn ông nào trong làng không biết sử dụng ná (pa'nanh) thì coi như chưa trưởng thành, những người bắn ná giỏi nhất rất được kính trọng.Được biết với người Cơ Tu, chiếc ná là một vật dụng hết sức thiêng liêng, tượng trưng cho khả năng chinh phục thiên nhiên và sức mạnh của người đàn ông Cơ Tu. Chiếc ná (pa'nanh) lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của người Cơ Tu nên được các lão làng vẫn miệt mài chế tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu săn bắn.
Xưa kia, người Cơ Tu sống ở vùng rừng núi, hồi đó còn nhiều thú dữ nên phải sống ở nhà sàn, đi rừng, lên nương đều luôn mang theo ná và các vũ khí khác để phòng thân và săn thú chống lại sự phá hoa màu mà lại có thêm thức ăn cho gia đình. Ngay cả trẻ con và phụ nũa cũng sớm được làm quen với ná, tên và được người lớn đưa đi rừng.
Ná của người Cơ Tu thường có hai loại, phân biệt dựa theo chiều dài của cánh ná. Cũng dựa vào đó mà sẽ có mũi tên thích hợp cho từng loại. Thân ná được làm gỗ cứng như: rọi, cẩm lai. Cánh ná thì sử dụng các loại gỗ có tính đàn hồi như gỗ cau.
Ngày xưa, để làm một cây ná phải mất hàng tháng. Phải vào rừng tìm cây, rồi đánh dấu lại, đến một thời gian nhất định trong tháng mới đến đốn, vì khi đó chất gỗ sẽ săn chắc hơn tại có mùa gỗ bị mọt ăn, gẩy. Gỗ sau khi đốn được đem về đẵn ra thành từng bộ phận riêng biệt, rồi dùng một con dao mác nhỏ bằng ngón tay đẽo kỹ lại, công đoạn này phải mất ít nhất cả tháng.
Với người đàn ông Cơ Tu, họ đều luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ nét văn hóa truyền thống của cộng đồng, trong đó có chiếc ná (pa'nanh) và truyền cho các thế hệ sau để lưu giữ nét xưa.
Hằng năm, đồng bào Cơ Tu còn tổ chức các lễ hội ăn mừng lúa mới, tổ chức khánh thành Gươl mới của làng... Qua đó thường lồng các hoạt động như: thi bắn ná, thi chế tác ná để con cháu về sau hiểu hơn về nét văn hóa này.
Theo Nguyễn Văn Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014
Thượng Minh mùa 'hoa lửa'
(TQO) - Đến trung tâm xã Hồng Quang (Chiêm Hóa), hỏi thăm thôn Thượng Minh còn bao xa, một vài người dân chỉ tay vào con dốc ngoằn ngoèo: “Cứ đi, gần một giờ nữa”. “Gần một giờ” hệt như cái “quăng dao” mà ngày trước đồng bào miền núi vẫn thường nói. Vậy là, việc tìm hiểu về lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn đã được hé mở từ một chuyện như thế.
Vùng đất có câu chuyện huyền bí
Con đường đất rộng chừng 3 m, dài gần 10 cây số với những dốc, đèo quanh co đưa chúng tôi đến với thôn Thượng Minh. Phải loay hoay mất gần 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào được đến thôn. Dựng chân chống xe cũng là lúc trên người lấm lem bùn đất, chúng tôi gặp một người đàn ông để hỏi thăm nhà ông thầy cúng nhảy lửa.
Nhìn thấy bộ dạng chúng tôi, anh huơ tay nói giọng lơ lớ: “15 năm về trước, để ra, vào thôn, bọn anh luôn phải đi men theo những bờ ruộng, con suối. Hồi đó chưa có đường nên xe đạp cũng chịu thôi, dân ở đây một là cưỡi trâu, hai là đi bộ. Bây giờ bọn em được cưỡi xe máy vào đây là quá được rồi”. Người đàn ông ấy là Phù Văn Chi, người thôn Thượng Minh.
Khách đến thôn liên hệ công việc, muốn nhanh chóng đều phải qua nhà bà Bàn Thị Tài, Bí thư chi bộ thôn. Bà Tài có dáng người cao, đậm, giọng nói sang sảng như đàn ông. Bà Tài cho biết, Thượng Minh là thôn vùng cao của huyện Chiêm Hóa, có ranh giới giáp với tỉnh Hà Giang. Thôn có 136 hộ, 656 nhân khẩu với 6 dân tộc, gồm: Pà Thẻn, Mông, Dao tiền, Tày, Nùng, Thủy, trong đó dân tộc Pà Thẻn đông nhất có gần 400 người. Mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng, nhưng đặc biệt, dân tộc Pà Thẻn, có lễ hội nhảy lửa rất độc đáo mà không một dân tộc nào có.
Ông thầy cúng tên là Húng Văn Hin, dân tộc Pà Thẻn. Nhà ông Hin nằm trên một quả đồi thấp cùng với hơn chục nhà khác. Năm nay ông 70 tuổi nhưng đã đi học làm thầy cúng từ năm 16 tuổi nên rất có uy tín. Ông Hin lấy ra một thanh gỗ dài khoảng 4 gang tay, trên đó có gắn miếng sắt dọc theo chiều dài thân thanh gỗ và một thanh tre nhỏ có vải màu đỏ quấn ở một đầu, ông gọi hai thứ ấy là “pạn dơ”. “Đó là tiếng Pà Thẻn đấy, nhưng nó cũng chẳng có nghĩa gì cả.
Từ khi tôi được đẻ ra, chỉ biết ông bà tôi gọi thế nên gọi theo. Cái này dùng trong lễ hội nhảy lửa, để cúng mời thánh ở trên trời xuống đấy”. Ông kể, thầy làm lễ mặc quần áo, mũ cúng, cắm chặt “pạn dơ” vào một đầu ghế băng, rồi cứ dùng thanh tre quấn vải đỏ mà gõ vào đó, miệng thì lẩm nhẩm khấn. Thông thường, việc chuẩn bị phải bắt đầu trước lễ nhảy lửa khoảng vài tiếng đồng hồ. Lễ vật cúng trong lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn rất đơn sơ, gồm một bát hương nhỏ, một con gà luộc, chục chén rượu trắng, vài ôm củi gỗ rừng để đốt thành than hồng. Phụ nữ và trẻ em ít tuổi chỉ được xem, không được tham gia nhảy lửa. Trước mỗi buổi lễ, thầy cúng phải làm lễ để thần linh cho phép người Pà Thẻn có được sức mạnh phi thường nhảy vào đống lửa.
Phần làm lễ này kéo dài hơn một tiếng, có khi vài tiếng đồng hồ. Khi trời tối, đống củi sẽ được đốt cháy tạo thành đống than đỏ rực. Những người đàn ông Pà Thẻn tụ tập quanh thầy cúng, nghe tiếng thầy khấn và tiếng gõ của “pạn dơ” mỗi lúc một gấp gáp. Sau đó, thân mình thầy cúng và những người đàn ông tự nhiên rung lên bần bật. Anh Phù Văn Chung, người đàn ông đã từng nhảy lửa ở thôn nói rằng, lúc đó trong anh như có sức mạnh phi thường, sau khi thầy cúng làm lễ, anh nhảy cả hai chân vào đống than đỏ rực, bốc than tung lên như những chùm hoa lửa, nhưng không cảm thấy nóng và cũng không hề bị bỏng.
Sức sống của một lễ hội
Ông Hin nói rằng, nhảy lửa có từ khi người Pà Thẻn được sinh ra. Nhưng người Pà Thẻn có từ khi nào thì cũng không ai được rõ, chỉ biết là có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đến nay, dân tộc Pà Thẻn chỉ sống tập trung ở huyện Bắc Quang, Quang Bình (Hà Giang) và thôn Thượng Minh (Chiêm Hoá).
Với người Pà Thẻn, lửa được coi như vị thần rất linh thiêng của họ. Nhảy lửa thường được tổ chức vào cuối năm, khi thời tiết đang bước vào thời kỳ khắc nghiệt nhất của mùa đông. Lửa sẽ giúp mang lại cho đồng bào Pà Thẻn sự ấm áp, mừng cho một vụ thu hoạch hoa màu vừa kết thúc, cầu thần linh phù hộ cho dân an vật thịnh và xua đuổi tà ma, đẩy lùi bệnh tật.
Nhảy lửa là sinh hoạt văn hóa mang tính chất tâm linh, thể hiện một sức mạnh phi thường của những người đàn ông Pà Thẻn muốn chinh phục thiên nhiên, làm chủ cuộc sống. Đời này qua đời khác, lễ hội nhảy lửa đã trở thành tục lệ không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Pà Thẻn. Có thể nói, tuy còn mang màu sắc tâm linh và huyền bí, nhưng lễ hội nhảy lửa truyền thống của dân tộc Pà Thẻn là kết quả từ lao động. Đây là sinh hoạt tinh thần hết sức phong phú và độc đáo của dân tộc Pà Thẻn, chứa đựng những giá trị văn hóa đậm nét của miền sơn cước.
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các dự án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đang dần tạo điều kiện cho các phong tục tập quán mang đậm bản sắc của các dân tộc được phát huy. Trong đó, người dân thôn Thượng Minh, đặc biệt là đồng bào dân tộc Pà Thẻn đang sinh sống ở đây có cơ hội được khôi phục, thưởng thức và tham gia lễ hội truyền thống của dân tộc mình. Con trẻ sẽ lại được chiêm ngưỡng những bước nhảy đầy khí thế, thể hiện lòng dũng cảm, sự phi thường của cha anh mình, điều mà chúng chưa bao giờ được biết đến từ khi sinh ra. Cuối năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với huyện Chiêm Hóa tổ chức khôi phục lại lễ hội nhảy lửa của đồng bào dân tộc Pà Thẻn thôn Thượng Minh.
Gần 30 năm kể từ lần đầu tiên ông Húng Văn Hin gõ vào chiếc “pạn dơ” trong cuộc đời làm thầy của mình, thì đến năm ấy, trong cái giá rét của mùa đông, ông lại được làm lại cái điều thiêng liêng đó để cầu xin thần linh trên trời phù hộ cho bà con dân bản có được cuộc sống no ấm, ban cho con cháu Pà Thẻn có sức khỏe để chiến thắng bệnh tật, chăm lo lao động, xua đi cái nghèo. Chưa hết, áp Tết Tân Mão năm 2011, một lần nữa, những chùm “hoa lửa” ở Thượng Minh lại có dịp nở bừng lên. Từ đây, chắc chắn nhiều người trong và ngoài tỉnh sẽ biết đến một thôn vùng cao có dân tộc Pà Thẻn sinh sống, một lễ hội có đủ sức quyến rũ để níu chân du khách.
Theo Việt Hòa (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Vùng đất có câu chuyện huyền bí
Con đường đất rộng chừng 3 m, dài gần 10 cây số với những dốc, đèo quanh co đưa chúng tôi đến với thôn Thượng Minh. Phải loay hoay mất gần 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào được đến thôn. Dựng chân chống xe cũng là lúc trên người lấm lem bùn đất, chúng tôi gặp một người đàn ông để hỏi thăm nhà ông thầy cúng nhảy lửa.
Nhìn thấy bộ dạng chúng tôi, anh huơ tay nói giọng lơ lớ: “15 năm về trước, để ra, vào thôn, bọn anh luôn phải đi men theo những bờ ruộng, con suối. Hồi đó chưa có đường nên xe đạp cũng chịu thôi, dân ở đây một là cưỡi trâu, hai là đi bộ. Bây giờ bọn em được cưỡi xe máy vào đây là quá được rồi”. Người đàn ông ấy là Phù Văn Chi, người thôn Thượng Minh.
Khách đến thôn liên hệ công việc, muốn nhanh chóng đều phải qua nhà bà Bàn Thị Tài, Bí thư chi bộ thôn. Bà Tài có dáng người cao, đậm, giọng nói sang sảng như đàn ông. Bà Tài cho biết, Thượng Minh là thôn vùng cao của huyện Chiêm Hóa, có ranh giới giáp với tỉnh Hà Giang. Thôn có 136 hộ, 656 nhân khẩu với 6 dân tộc, gồm: Pà Thẻn, Mông, Dao tiền, Tày, Nùng, Thủy, trong đó dân tộc Pà Thẻn đông nhất có gần 400 người. Mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng, nhưng đặc biệt, dân tộc Pà Thẻn, có lễ hội nhảy lửa rất độc đáo mà không một dân tộc nào có.
Ông thầy cúng tên là Húng Văn Hin, dân tộc Pà Thẻn. Nhà ông Hin nằm trên một quả đồi thấp cùng với hơn chục nhà khác. Năm nay ông 70 tuổi nhưng đã đi học làm thầy cúng từ năm 16 tuổi nên rất có uy tín. Ông Hin lấy ra một thanh gỗ dài khoảng 4 gang tay, trên đó có gắn miếng sắt dọc theo chiều dài thân thanh gỗ và một thanh tre nhỏ có vải màu đỏ quấn ở một đầu, ông gọi hai thứ ấy là “pạn dơ”. “Đó là tiếng Pà Thẻn đấy, nhưng nó cũng chẳng có nghĩa gì cả.
Từ khi tôi được đẻ ra, chỉ biết ông bà tôi gọi thế nên gọi theo. Cái này dùng trong lễ hội nhảy lửa, để cúng mời thánh ở trên trời xuống đấy”. Ông kể, thầy làm lễ mặc quần áo, mũ cúng, cắm chặt “pạn dơ” vào một đầu ghế băng, rồi cứ dùng thanh tre quấn vải đỏ mà gõ vào đó, miệng thì lẩm nhẩm khấn. Thông thường, việc chuẩn bị phải bắt đầu trước lễ nhảy lửa khoảng vài tiếng đồng hồ. Lễ vật cúng trong lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn rất đơn sơ, gồm một bát hương nhỏ, một con gà luộc, chục chén rượu trắng, vài ôm củi gỗ rừng để đốt thành than hồng. Phụ nữ và trẻ em ít tuổi chỉ được xem, không được tham gia nhảy lửa. Trước mỗi buổi lễ, thầy cúng phải làm lễ để thần linh cho phép người Pà Thẻn có được sức mạnh phi thường nhảy vào đống lửa.
Phần làm lễ này kéo dài hơn một tiếng, có khi vài tiếng đồng hồ. Khi trời tối, đống củi sẽ được đốt cháy tạo thành đống than đỏ rực. Những người đàn ông Pà Thẻn tụ tập quanh thầy cúng, nghe tiếng thầy khấn và tiếng gõ của “pạn dơ” mỗi lúc một gấp gáp. Sau đó, thân mình thầy cúng và những người đàn ông tự nhiên rung lên bần bật. Anh Phù Văn Chung, người đàn ông đã từng nhảy lửa ở thôn nói rằng, lúc đó trong anh như có sức mạnh phi thường, sau khi thầy cúng làm lễ, anh nhảy cả hai chân vào đống than đỏ rực, bốc than tung lên như những chùm hoa lửa, nhưng không cảm thấy nóng và cũng không hề bị bỏng.
Sức sống của một lễ hội
Ông Hin nói rằng, nhảy lửa có từ khi người Pà Thẻn được sinh ra. Nhưng người Pà Thẻn có từ khi nào thì cũng không ai được rõ, chỉ biết là có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đến nay, dân tộc Pà Thẻn chỉ sống tập trung ở huyện Bắc Quang, Quang Bình (Hà Giang) và thôn Thượng Minh (Chiêm Hoá).
Với người Pà Thẻn, lửa được coi như vị thần rất linh thiêng của họ. Nhảy lửa thường được tổ chức vào cuối năm, khi thời tiết đang bước vào thời kỳ khắc nghiệt nhất của mùa đông. Lửa sẽ giúp mang lại cho đồng bào Pà Thẻn sự ấm áp, mừng cho một vụ thu hoạch hoa màu vừa kết thúc, cầu thần linh phù hộ cho dân an vật thịnh và xua đuổi tà ma, đẩy lùi bệnh tật.
Nhảy lửa là sinh hoạt văn hóa mang tính chất tâm linh, thể hiện một sức mạnh phi thường của những người đàn ông Pà Thẻn muốn chinh phục thiên nhiên, làm chủ cuộc sống. Đời này qua đời khác, lễ hội nhảy lửa đã trở thành tục lệ không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Pà Thẻn. Có thể nói, tuy còn mang màu sắc tâm linh và huyền bí, nhưng lễ hội nhảy lửa truyền thống của dân tộc Pà Thẻn là kết quả từ lao động. Đây là sinh hoạt tinh thần hết sức phong phú và độc đáo của dân tộc Pà Thẻn, chứa đựng những giá trị văn hóa đậm nét của miền sơn cước.
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các dự án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đang dần tạo điều kiện cho các phong tục tập quán mang đậm bản sắc của các dân tộc được phát huy. Trong đó, người dân thôn Thượng Minh, đặc biệt là đồng bào dân tộc Pà Thẻn đang sinh sống ở đây có cơ hội được khôi phục, thưởng thức và tham gia lễ hội truyền thống của dân tộc mình. Con trẻ sẽ lại được chiêm ngưỡng những bước nhảy đầy khí thế, thể hiện lòng dũng cảm, sự phi thường của cha anh mình, điều mà chúng chưa bao giờ được biết đến từ khi sinh ra. Cuối năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với huyện Chiêm Hóa tổ chức khôi phục lại lễ hội nhảy lửa của đồng bào dân tộc Pà Thẻn thôn Thượng Minh.
Gần 30 năm kể từ lần đầu tiên ông Húng Văn Hin gõ vào chiếc “pạn dơ” trong cuộc đời làm thầy của mình, thì đến năm ấy, trong cái giá rét của mùa đông, ông lại được làm lại cái điều thiêng liêng đó để cầu xin thần linh trên trời phù hộ cho bà con dân bản có được cuộc sống no ấm, ban cho con cháu Pà Thẻn có sức khỏe để chiến thắng bệnh tật, chăm lo lao động, xua đi cái nghèo. Chưa hết, áp Tết Tân Mão năm 2011, một lần nữa, những chùm “hoa lửa” ở Thượng Minh lại có dịp nở bừng lên. Từ đây, chắc chắn nhiều người trong và ngoài tỉnh sẽ biết đến một thôn vùng cao có dân tộc Pà Thẻn sinh sống, một lễ hội có đủ sức quyến rũ để níu chân du khách.
Theo Việt Hòa (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014
Bản đa thê và chuyện '3 vợ, một giường'
(VTC) - Ông Lầu A Xá, cán bộ tư pháp xã Xa Dung (Điện Biên Đông, Điện Biên), cho biết: Xã tôi cũng có nhiều người lấy hai vợ đấy. Biết rằng lấy hai vợ là vi phạm pháp luật nhưng xã bất lực ngăn chặn.
"Mình đẹp trai kéo vợ hai dễ lắm!"
Xã Xa Dung nằm cách trung tâm huyện Điện Biên Đông khoảng 30km. Chuẩn bị cuộc hành trình, chúng tôi vào trạm xăng nạp nhiên liệu cho con “ngựa sắt” Wave Alpha thì được một người bản địa thốt lên: “Các anh có bị điên không? Lên Xa Dung mà đi xe này chỉ có khóc dọc đường. Nắng lên thì may chạy được mấy đoạn xuống dốc, còn mưa xuống đừng nói đi mà đẩy cũng chẳng xong". Rồi anh ta khuyên nên thuê chiếc xe Win may ra bò lên được. Nghe vậy, đành đổi "ngựa".
Rời trung tâm huyện chừng được 3km, y rằng lời nói người bản địa đúng thật. Trước mặt chúng tôi là con đường cấp phối rộng chừng 3m, đất đá lổm chổm hết lên dốc rồi đổ đèo. Ông Vừa Xô Dày, Chủ tịch UBND xã Xa Dung, vui vẻ: “Các chú khá đấy chứ. Người dân bản địa mỗi lần xuôi xuống huyện đã ngán nhưng các chú lên được tận đây”.
Gặp ông hỏi về đời sống kinh tế bà con xã thế nào, ông liền than: “Ở xã có 20 bản, trong đó người Mông (chiếm 80%) và người Thái (20%) sinh sống. Nhưng tình trạng đẻ nhiều khiến cuộc sống các hộ gia đình thiếu ăn thường xuyên. Đặc biệt, phong tục đa thê xẩy ra. Bởi người Mông có quan niệm “mười gái chẳng bằng một trai”. Do đó, kéo tụt mọi thành quả, nỗ lực thoát nghèo của chính quyền xã”.
Cầm tờ giấy, ông Lầu A Xá, cán bộ tư pháp xã thống kê, Xa Dung có 8 người đàn ông lấy hai vợ, ba vợ. Ông Xá phân trần: “Biết lấy hai vợ là vi phạm pháp luật nhưng xã bất lực ngăn chặn. Từ bao đời này người Mông có phong tục vợ cả không có con trai thì lén lút cưới vợ hai về “thi đẻ” với vợ cả kiếm con trai nối dõi”.
Để mục sở thị những người đàn ông đa thê, chúng tôi tìm đến ông Chá Già Lử (48 tuổi, bản Xa Dung B). Gặp ông, chúng tôi đùa: “Bọn em đến gặp bác học hỏi kinh nghiệm về dưới xuôi lấy hai vợ”. Nghe xong ông đáp: “Mình ưng thì lấy thôi, ở đây mình lấy vợ công khai mà. Hai vợ ngủ chung, ăn chung, làm chung một nương hết nhưng cơm lành canh ngọt”.
Ông Lử kể, khi mới 18 tuổi ông theo đám thanh niên trong bản đi chơi và kéo bà Mùa Thị Tùng (bản Chua Ta, Mường Lạn, Tuần Giáo, Điện Biên) về. Ở với nhau 5 năm, bà Tùng sinh cho ông 3 đứa con gái thì “tịt đẻ” luôn. “Người Mông không sợ đói, chỉ sợ không có con trai thôi. Mình đang khoẻ mạnh, đẹp trai thì kéo vợ hai dễ lắm”, ông Lử tâm sự.
Đã có với bà cả 3 đứa con, nhưng ông Lử phải lòng bà Vừa Thị Khua (SN 1964) ở cùng bản. Bà Khua đã có hai đứa con, chồng chết sớm. Từ đó, cứ ba năm hai đứa, trong vòng 15 năm bà Khua sinh cho ông 5 đứa con (2 trai 3 gái).
Lấy hai vợ, có được con trai nhưng gánh nặng cơm áo, gạo tiền đè lên đầu ông Lử. Trước đây, ông là người giàu có nhất bản nhưng nay ông “tụt hạng” do đàn con đông đúc, chưa hết mùa đã chạy ăn từng bữa. “Trước đây nhà mình nuôi nhiều trâu lắm, lúa ngô không lúc nào thiếu. Từ khi cưới vợ hai về đàn con thi nhau ra đời, chúng không có gì ăn khóc cả ngày. Để có cái bỏ miệng mình bán dần mọi thứ nay đã hết. Nhà nghèo, thiếu ăn và 10 người con đẻ và hai đứa con của vợ hai đang tuổi ăn học nhưng phải nghỉ để lên nương”, ông Lử buồn bã.
Ba vợ một giường
Với người Mông ở bản Xa Dung A, tiêu biểu trong chuyện “đa thê” phải kể đến ông Lầu Chứ Di đã lập nên “chiến tích” có 3 vợ và 8 đứa con. Đặc biệt, bao nhiêu năm chung sống nhưng chưa bao giờ ba bà có một cuộc “chiến tranh lạnh” hay tranh giành “gần gũi” với chồng.
Tìm đến nhà ông Di, từ già tới trẻ, ai cũng chỉ đường vanh vách. Và bất cứ ai sau khi nhiệt tình chỉ dẫn đều tủm tỉm hỏi lại: “Cán bộ dưới xuôi lên ạ! Đến khuyên con cháu ông Di và dòng họ Lầu đừng lấy nhiều vợ như ông đúng không?”.
Năm nay, ông Di đã bước sang tuổi 60. Vào năm 18 tuổi, ông Di kéo bà Chá Thị Dua (SN 1956) về làm vợ. Lấy nhau về được 3 năm thì bà Dua sinh cho ông hai đứa con gái và “tịt đẻ”. Không có con trai, họ hàng lên tiếng phải kéo thêm vợ hai về đẻ để kiếm con trai nối dõi. Ông Di là trưởng họ Lầu nên dứt khoát phải có con trai vì thế ông Di tiếp tục đi kéo thêm vợ nữa. Vào năm 1972, sau nhiều ngày tán tỉnh, cô Chá Thị Mỵ (SN 1965) ở cùng bản đã ưng cái bụng. Nhưng sau đó, cái miệng “dẻo” của ông Di khiến bà Sồng Thị Mỵ (SN 1963) dính vào lưới tình. Rồi họ đẻ cho ông 8 người con (3 trai 5 gái).
Tự hào về “chiến tích” có 3 vợ, ông Di tâm sự: “Để có nhiều vợ điều quan trọng là cái miệng. Mình có nhiều lúa, lắm trâu gì đâu, trong lúc có hai vợ nhưng mình nói chuyện hay các cô gái nghe lọt tai, cứ thế theo mình về làm vợ hết”. Tôi buột miệng hỏi: “Việc ông cưới ba vợ chính quyền xã họ có ý kiến gì không?". Ông Di nhanh nhảu đáp: “Biết làm sao được, ngày trước vợ mình có bao giờ ra ngoài đâu”.
Trong số ba bà thì chỉ có bà vợ cả do bố mẹ ông Di cưới có thủ tục đăng ký kết hôn đàng hoàng. Hai bà còn lại ông đều cưới “chui” hoặc cứ đến sinh sống với nhau như vợ chồng. Điều ấy dân bản biết hết và sau này chính quyền biết. Thế nhưng xã không có biện pháp ngăn chặn.
Khi hỏi ông làm sao mà để các bà không cãi nhau, tranh chồng thì ông cười: “Quan trọng là ở mình biết giáo dục chứ. Nếu biết cách thì mấy vợ cũng được hết". Rồi ông vui cười: “Ngày trước còn ở một nhà, đêm nào ba bà cũng nằm chung một giường nhưng chẳng bà nào ghen tị bà nào cả. Ba bà cùng các con ăn một mâm, ngủ cùng chồng và đi làm một nương. Lịch “gần gũi” ba bà cũng được tôi phân công rõ ràng. Theo phương thức xoay vòng, mỗi bà một ngày đêm, tuyệt đối không ai vi phạm”.
Chào ông Di ra về, ông còn đùa rằng: “Tôi xem trên phim thấy người dưới xuôi muốn lấy vợ hai kiếm con trai mà lén lút “cặp bồ” rồi mua nhà to cho bồ ở. Và cảnh người vợ cả đi tìm bồ của chồng đánh đập, có nhiều người còn giết nhau nữa. Ở đây, người Mông chúng tôi không thế đâu, ba vợ mà vẫn sống hạnh phúc, hoà thuận”.
Theo Đắc Thành - VTC New
Du lịch, GO!
"Mình đẹp trai kéo vợ hai dễ lắm!"
Xã Xa Dung nằm cách trung tâm huyện Điện Biên Đông khoảng 30km. Chuẩn bị cuộc hành trình, chúng tôi vào trạm xăng nạp nhiên liệu cho con “ngựa sắt” Wave Alpha thì được một người bản địa thốt lên: “Các anh có bị điên không? Lên Xa Dung mà đi xe này chỉ có khóc dọc đường. Nắng lên thì may chạy được mấy đoạn xuống dốc, còn mưa xuống đừng nói đi mà đẩy cũng chẳng xong". Rồi anh ta khuyên nên thuê chiếc xe Win may ra bò lên được. Nghe vậy, đành đổi "ngựa".
Rời trung tâm huyện chừng được 3km, y rằng lời nói người bản địa đúng thật. Trước mặt chúng tôi là con đường cấp phối rộng chừng 3m, đất đá lổm chổm hết lên dốc rồi đổ đèo. Ông Vừa Xô Dày, Chủ tịch UBND xã Xa Dung, vui vẻ: “Các chú khá đấy chứ. Người dân bản địa mỗi lần xuôi xuống huyện đã ngán nhưng các chú lên được tận đây”.
Gặp ông hỏi về đời sống kinh tế bà con xã thế nào, ông liền than: “Ở xã có 20 bản, trong đó người Mông (chiếm 80%) và người Thái (20%) sinh sống. Nhưng tình trạng đẻ nhiều khiến cuộc sống các hộ gia đình thiếu ăn thường xuyên. Đặc biệt, phong tục đa thê xẩy ra. Bởi người Mông có quan niệm “mười gái chẳng bằng một trai”. Do đó, kéo tụt mọi thành quả, nỗ lực thoát nghèo của chính quyền xã”.
Cầm tờ giấy, ông Lầu A Xá, cán bộ tư pháp xã thống kê, Xa Dung có 8 người đàn ông lấy hai vợ, ba vợ. Ông Xá phân trần: “Biết lấy hai vợ là vi phạm pháp luật nhưng xã bất lực ngăn chặn. Từ bao đời này người Mông có phong tục vợ cả không có con trai thì lén lút cưới vợ hai về “thi đẻ” với vợ cả kiếm con trai nối dõi”.
Để mục sở thị những người đàn ông đa thê, chúng tôi tìm đến ông Chá Già Lử (48 tuổi, bản Xa Dung B). Gặp ông, chúng tôi đùa: “Bọn em đến gặp bác học hỏi kinh nghiệm về dưới xuôi lấy hai vợ”. Nghe xong ông đáp: “Mình ưng thì lấy thôi, ở đây mình lấy vợ công khai mà. Hai vợ ngủ chung, ăn chung, làm chung một nương hết nhưng cơm lành canh ngọt”.
Ông Lử kể, khi mới 18 tuổi ông theo đám thanh niên trong bản đi chơi và kéo bà Mùa Thị Tùng (bản Chua Ta, Mường Lạn, Tuần Giáo, Điện Biên) về. Ở với nhau 5 năm, bà Tùng sinh cho ông 3 đứa con gái thì “tịt đẻ” luôn. “Người Mông không sợ đói, chỉ sợ không có con trai thôi. Mình đang khoẻ mạnh, đẹp trai thì kéo vợ hai dễ lắm”, ông Lử tâm sự.
Đã có với bà cả 3 đứa con, nhưng ông Lử phải lòng bà Vừa Thị Khua (SN 1964) ở cùng bản. Bà Khua đã có hai đứa con, chồng chết sớm. Từ đó, cứ ba năm hai đứa, trong vòng 15 năm bà Khua sinh cho ông 5 đứa con (2 trai 3 gái).
Lấy hai vợ, có được con trai nhưng gánh nặng cơm áo, gạo tiền đè lên đầu ông Lử. Trước đây, ông là người giàu có nhất bản nhưng nay ông “tụt hạng” do đàn con đông đúc, chưa hết mùa đã chạy ăn từng bữa. “Trước đây nhà mình nuôi nhiều trâu lắm, lúa ngô không lúc nào thiếu. Từ khi cưới vợ hai về đàn con thi nhau ra đời, chúng không có gì ăn khóc cả ngày. Để có cái bỏ miệng mình bán dần mọi thứ nay đã hết. Nhà nghèo, thiếu ăn và 10 người con đẻ và hai đứa con của vợ hai đang tuổi ăn học nhưng phải nghỉ để lên nương”, ông Lử buồn bã.
Ba vợ một giường
Với người Mông ở bản Xa Dung A, tiêu biểu trong chuyện “đa thê” phải kể đến ông Lầu Chứ Di đã lập nên “chiến tích” có 3 vợ và 8 đứa con. Đặc biệt, bao nhiêu năm chung sống nhưng chưa bao giờ ba bà có một cuộc “chiến tranh lạnh” hay tranh giành “gần gũi” với chồng.
Tìm đến nhà ông Di, từ già tới trẻ, ai cũng chỉ đường vanh vách. Và bất cứ ai sau khi nhiệt tình chỉ dẫn đều tủm tỉm hỏi lại: “Cán bộ dưới xuôi lên ạ! Đến khuyên con cháu ông Di và dòng họ Lầu đừng lấy nhiều vợ như ông đúng không?”.
Năm nay, ông Di đã bước sang tuổi 60. Vào năm 18 tuổi, ông Di kéo bà Chá Thị Dua (SN 1956) về làm vợ. Lấy nhau về được 3 năm thì bà Dua sinh cho ông hai đứa con gái và “tịt đẻ”. Không có con trai, họ hàng lên tiếng phải kéo thêm vợ hai về đẻ để kiếm con trai nối dõi. Ông Di là trưởng họ Lầu nên dứt khoát phải có con trai vì thế ông Di tiếp tục đi kéo thêm vợ nữa. Vào năm 1972, sau nhiều ngày tán tỉnh, cô Chá Thị Mỵ (SN 1965) ở cùng bản đã ưng cái bụng. Nhưng sau đó, cái miệng “dẻo” của ông Di khiến bà Sồng Thị Mỵ (SN 1963) dính vào lưới tình. Rồi họ đẻ cho ông 8 người con (3 trai 5 gái).
Tự hào về “chiến tích” có 3 vợ, ông Di tâm sự: “Để có nhiều vợ điều quan trọng là cái miệng. Mình có nhiều lúa, lắm trâu gì đâu, trong lúc có hai vợ nhưng mình nói chuyện hay các cô gái nghe lọt tai, cứ thế theo mình về làm vợ hết”. Tôi buột miệng hỏi: “Việc ông cưới ba vợ chính quyền xã họ có ý kiến gì không?". Ông Di nhanh nhảu đáp: “Biết làm sao được, ngày trước vợ mình có bao giờ ra ngoài đâu”.
Trong số ba bà thì chỉ có bà vợ cả do bố mẹ ông Di cưới có thủ tục đăng ký kết hôn đàng hoàng. Hai bà còn lại ông đều cưới “chui” hoặc cứ đến sinh sống với nhau như vợ chồng. Điều ấy dân bản biết hết và sau này chính quyền biết. Thế nhưng xã không có biện pháp ngăn chặn.
Khi hỏi ông làm sao mà để các bà không cãi nhau, tranh chồng thì ông cười: “Quan trọng là ở mình biết giáo dục chứ. Nếu biết cách thì mấy vợ cũng được hết". Rồi ông vui cười: “Ngày trước còn ở một nhà, đêm nào ba bà cũng nằm chung một giường nhưng chẳng bà nào ghen tị bà nào cả. Ba bà cùng các con ăn một mâm, ngủ cùng chồng và đi làm một nương. Lịch “gần gũi” ba bà cũng được tôi phân công rõ ràng. Theo phương thức xoay vòng, mỗi bà một ngày đêm, tuyệt đối không ai vi phạm”.
Chào ông Di ra về, ông còn đùa rằng: “Tôi xem trên phim thấy người dưới xuôi muốn lấy vợ hai kiếm con trai mà lén lút “cặp bồ” rồi mua nhà to cho bồ ở. Và cảnh người vợ cả đi tìm bồ của chồng đánh đập, có nhiều người còn giết nhau nữa. Ở đây, người Mông chúng tôi không thế đâu, ba vợ mà vẫn sống hạnh phúc, hoà thuận”.
Theo Đắc Thành - VTC New
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014
Lễ hội nào cống ở Tả Van
Nào cống là lễ hội của các đồng bào dân tộc thiểu số H'Mông, Dao, Giáy. Từ thập kỷ 50 về trước, Tả Van có một ngôi miếu thờ 3 gian. Ngôi miếu dựng ở ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu trở thành địa điểm tổ chức lễ “Nào Cống” của cả vùng thung lũng Mường Hoa.
Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già, trẻ.
Ngôi miếu thờ được người Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng Mường Hoa. Một gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người Mong gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”.
Một gian bên phải thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là trâu đen, lợn đen và gà vịt do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương, bát đĩa dâng cúng.
Lễ “Nào Cống” có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống. Trước đây, người chủ lễ phải mời thầy mo người Tày của Mường Bo. Từ thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo của người Giáy ở Tả Van. Thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ, khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa lên đọc quy ước chung của cả Mường...
Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề:
- Vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu nơi khác đến trộm cắp.
- Vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người Mông, người Dao, người Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng...
- Vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài khoảng thời gian trên, cấm mọi người thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng.
- Vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp gia đình có tang... đồng thời phê phán quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”.
Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến.
Kết thúc phần phổ biến quy ước, mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, chỉ có các chức dịch (lý trưởng, phó lý, thầy mo) được ngồi ăn. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự, người khác sẽ dành phần thức ăn mang về.
Trích từ Wikipedia
Du lịch, GO!
Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già, trẻ.
Ngôi miếu thờ được người Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng Mường Hoa. Một gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người Mong gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”.
Một gian bên phải thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là trâu đen, lợn đen và gà vịt do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương, bát đĩa dâng cúng.
Lễ “Nào Cống” có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống. Trước đây, người chủ lễ phải mời thầy mo người Tày của Mường Bo. Từ thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo của người Giáy ở Tả Van. Thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ, khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa lên đọc quy ước chung của cả Mường...
Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề:
- Vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu nơi khác đến trộm cắp.
- Vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người Mông, người Dao, người Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng...
- Vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài khoảng thời gian trên, cấm mọi người thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng.
- Vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp gia đình có tang... đồng thời phê phán quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”.
Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến.
Kết thúc phần phổ biến quy ước, mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, chỉ có các chức dịch (lý trưởng, phó lý, thầy mo) được ngồi ăn. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự, người khác sẽ dành phần thức ăn mang về.
Trích từ Wikipedia
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014
Lễ hội cúng dừa của người Khmer.
(TTO) - Hằng năm, bà con ở xã An Hiệp (Châu Thành, Sóc Trăng) tổ chức lễ cúng dừa (hội Thác Côn) kéo dài ba ngày từ ngày 15 đến 17-3 âm lịch tại chùa Ma ha sal Phat Mon của người Khmer.
< Cổng chùa Mahasal Thatmon.
Theo truyền thuyết, từ xa xưa nơi đây nổi lên một gò đất hình dạng như chiếc cồng. Chân người giẫm lên phát ra thứ tiếng âm vang như chiếc cồng, theo thời gian âm thanh nhỏ dần rồi mất hẳn. Bà con cho rằng đây là sự linh thiêng nên lập miếu thờ. Hằng năm cứ đến rằm tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội cầu an gọi là Thác Côn, gợi lại tiếng còng chiêng âm vang từ đất, và những chiếc bình bông làm bằng trái dừa được dâng cúng.
< Dừa dâng cúng Phật.
Cũng như các lễ hội cầu an, mong mùa màng bội thu, bà con được bình yên lao động sản xuất, những vật dâng lễ cúng là những thứ hoa trái mang đậm dấu ấn tín ngưỡng. Các thứ hoa như sen tượng trưng cho sự thanh khiết, bình bông làm bằng trái dừa được vạt miệng, loại quả có nước tinh khiết, ngọt lành. Những cây bông bằng tre kết lá trầu xanh sẽ được cắm lên trái dừa. Ngoài ra luôn có miếng trầu trong lễ cúng.
Dừa đủ cở lớn nhỏ, mỗi gia đình tùy theo lời nguyện của mình mà đem theo dừa dâng cúng. Thường mỗi người đem đến một cặp dừa nhưng cũng có gia đình đem đến 7 - 8 cặp, có màu sắc khác nhau. Nhìn kỹ sẽ thấy đa số lễ vật cúng có năm thứ tượng trưng cho năm vị bồ tát, bao nhiêu lòng thành của khách hành hương như gởi gắm trong chiếc bình nhỏ bằng trái dừa.
< Bán dừa làm bình hoa.
Khách dự hội năm nay đông hơn các năm trước, những bãi giữ xe lộ thiên chật kín xe, hàng quán mọc lên kín hai bên lộ. Trước cổng chùa, lễ vật hoa trái được bày bán sầm uất, một cặp dừa cắm hoa sẵn bán giá chỉ 15.000 đồng. Năm nay bà con về dự hội đông hơn mọi năm, từ Campuchia và các tỉnh bạn như Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ… Ước tính một đêm không dưới 10.000 người.
Đêm hội Thác Côn là đêm thức trắng, nam thanh nữ tú ba dân tộc Việt, Khmer, Hoa có dịp kết bạn, trong không khí nô nức như hội trăng rằm. Phía sau chùa là bãi đất rộng gần 5 công đất tổ chức đa dạng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí thật náo nhiệt. Gánh hát dù kê phục vụ xuyên suốt. Quán nước, quán ăn phục vụ đến sáng.
< Dừa cho vào kho.
Sau ba ngày, khi những bình bông bằng dừa được chất cao như núi trong sân chùa Thác Côn, cũng là lúc bà con xã An Hiệp thực hiện nghi lễ cuối cùng, nghi lễ mang đậm phong tục tập quán nông nghiệp, gom những giống ngũ cốc đã đặt trên bệ thờ, lấy ít tro nhang từ các lư hương đặt vào chiếc mâm bạc thường chứa các vật cúng.
Chị em phụ nữ theo sau người mang chiếc mâm ra đồng, dâng cúng đất đai, ruộng vườn, cúng những vị thần bảo hộ, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, no ấm. Sau đó họ rải hạt giống, rắc tro, chân nhang lên cánh đồng, bờ ruộng. Riêng những bình bông bằng trái dừa, một số bà con xin về cho con cháu uống mong bình an mạnh khỏe, học hành thông minh.
Theo Hưng Phú (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Cổng chùa Mahasal Thatmon.
Theo truyền thuyết, từ xa xưa nơi đây nổi lên một gò đất hình dạng như chiếc cồng. Chân người giẫm lên phát ra thứ tiếng âm vang như chiếc cồng, theo thời gian âm thanh nhỏ dần rồi mất hẳn. Bà con cho rằng đây là sự linh thiêng nên lập miếu thờ. Hằng năm cứ đến rằm tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội cầu an gọi là Thác Côn, gợi lại tiếng còng chiêng âm vang từ đất, và những chiếc bình bông làm bằng trái dừa được dâng cúng.
< Dừa dâng cúng Phật.
Cũng như các lễ hội cầu an, mong mùa màng bội thu, bà con được bình yên lao động sản xuất, những vật dâng lễ cúng là những thứ hoa trái mang đậm dấu ấn tín ngưỡng. Các thứ hoa như sen tượng trưng cho sự thanh khiết, bình bông làm bằng trái dừa được vạt miệng, loại quả có nước tinh khiết, ngọt lành. Những cây bông bằng tre kết lá trầu xanh sẽ được cắm lên trái dừa. Ngoài ra luôn có miếng trầu trong lễ cúng.
Dừa đủ cở lớn nhỏ, mỗi gia đình tùy theo lời nguyện của mình mà đem theo dừa dâng cúng. Thường mỗi người đem đến một cặp dừa nhưng cũng có gia đình đem đến 7 - 8 cặp, có màu sắc khác nhau. Nhìn kỹ sẽ thấy đa số lễ vật cúng có năm thứ tượng trưng cho năm vị bồ tát, bao nhiêu lòng thành của khách hành hương như gởi gắm trong chiếc bình nhỏ bằng trái dừa.
< Bán dừa làm bình hoa.
Khách dự hội năm nay đông hơn các năm trước, những bãi giữ xe lộ thiên chật kín xe, hàng quán mọc lên kín hai bên lộ. Trước cổng chùa, lễ vật hoa trái được bày bán sầm uất, một cặp dừa cắm hoa sẵn bán giá chỉ 15.000 đồng. Năm nay bà con về dự hội đông hơn mọi năm, từ Campuchia và các tỉnh bạn như Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ… Ước tính một đêm không dưới 10.000 người.
Đêm hội Thác Côn là đêm thức trắng, nam thanh nữ tú ba dân tộc Việt, Khmer, Hoa có dịp kết bạn, trong không khí nô nức như hội trăng rằm. Phía sau chùa là bãi đất rộng gần 5 công đất tổ chức đa dạng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí thật náo nhiệt. Gánh hát dù kê phục vụ xuyên suốt. Quán nước, quán ăn phục vụ đến sáng.
< Dừa cho vào kho.
Sau ba ngày, khi những bình bông bằng dừa được chất cao như núi trong sân chùa Thác Côn, cũng là lúc bà con xã An Hiệp thực hiện nghi lễ cuối cùng, nghi lễ mang đậm phong tục tập quán nông nghiệp, gom những giống ngũ cốc đã đặt trên bệ thờ, lấy ít tro nhang từ các lư hương đặt vào chiếc mâm bạc thường chứa các vật cúng.
Chị em phụ nữ theo sau người mang chiếc mâm ra đồng, dâng cúng đất đai, ruộng vườn, cúng những vị thần bảo hộ, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, no ấm. Sau đó họ rải hạt giống, rắc tro, chân nhang lên cánh đồng, bờ ruộng. Riêng những bình bông bằng trái dừa, một số bà con xin về cho con cháu uống mong bình an mạnh khỏe, học hành thông minh.
Theo Hưng Phú (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









































