Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Biển ở giữa hai đèo

(ANTĐ) - Trong những hành trình dọc chiều dài đất nước, có những địa danh, những điểm đến mà với bất cứ ai, dù chỉ một lần ghé lại cũng đủ để ghi một dấu ấn không thể nào phai nhạt.

Không phải ngẫu nhiên mà Tổ chức Du lịch thế giới (OWT) đã đánh giá cụm du lịch liên hoàn Vân Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô là một trong những danh thắng đẹp nhất khu vực châu Á và Viễn Đông.

Nằm giữa đèo Cổ Mã ở phía Nam và đèo Cả ở phía Bắc, cách Nha Trang 80km, từ thời vua Minh Mạng, nơi đây đã được liệt vào hàng danh thắng đệ nhất của đất nước với những bãi biển đẹp hiền hòa.

Điều đặc biệt khiến cho những bãi biển nơi đây trở nên khác biệt chính là những dòng suối nước ngọt có nguồn từ trên núi chảy xuống quanh năm không cạn, mát lạnh và nằm ẩn mình trong rừng thùy dương xanh ngắt, thỉnh thoảng lại thoát ra khỏi màu xanh ấy để trườn mình trên những sa mạc cát trắng lóng lánh như những con trăn khổng lồ đang trườn về phía đại dương, tạo nên khung cảnh thật nên thơ, lãng mạn mà không một bãi biển nào có được.

Đứng trên đèo Cả để nhìn toàn cảnh Vũng Rô và núi Đá Bia - Thạch Bi Sơn, một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra phía biển. Núi Đá Bia nhô hẳn ra Biển Đông, kéo dài, tạo thành một vùng bán đảo che chắn gió quanh năm sóng yên biển lặng.

Vũng Rô, một bến cảng đẹp như mơ nhưng cũng ẩn chứa trong nó bao câu chuyện lịch sử về một thời hào hùng. Những bến thuyền tiếp nhận vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu từ miền Bắc gửi vào chi viện cho chiến trường Quân khu 5 trong chiến tranh chống Mỹ. Biết bao tấn vũ khí, đạn dược, muối gạo, thuốc men đã bốc lên từ cảng Vũng Rô và vận chuyển trên đoạn đường này để đến tay các chiến sĩ giải phóng, các chiến sĩ tự vệ mật trong các căn cứ cách mạng và đô thị. Di tích còn đó xác một con tàu không số ghi dấu những chiến công.

Đứng trên đèo Cổ Mã nhìn về phía biển, những bãi cát dài hiền hòa quanh năm sóng vỗ. Ở phía xa kia giữa màu xanh biển cả, đảo Hòn Bà, Hòn Nưa lấp lánh ánh chiều nhuộm tím. Ngọn hải đăng trên đảo Hòn Nưa thắp sáng đường đi cho những chuyến tàu ra vào vịnh.

Vùng vịnh nằm giữa hai đèo thăm thẳm một màu xanh của núi và hai hòn đảo nhấp nhô như cửa ngõ dẫn vào một vòng tròn huyền ảo. Trên đèo Cả có hòn Vọng Phu (còn gọi là đèo Mẹ Bồng Con) - một tặng vật thiên nhiên bất hủ dành cho vùng biển Phú Yên. Hơn hết thẩy, tắm biển hoặc thưởng thức các món ăn hải sản tại những bãi biển mát mẻ nên thơ như Bãi Lách, Bãi Mù U, Bãi Ngà, Bãi Chùa, Bãi Chân Trâu, Bãi Hồ, Bãi Hàng, Bãi Nhỏ, Bãi Chính, Bãi Bàng, Bãi Lau, Bãi Nhãn với phong cảnh sơn thủy hữu tình, quyến rũ sẽ khiến cho những bước chân du khách đã đến một lần sẽ thật khó để rời đi.

Theo Vũ Thanh (báo An Ninh Thủ Đô)
Travel79.net

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Sống cùng Thu Bồn (P2)

(TTO) - Qua những biến thiên, lưu vực những con sông lớn như một chiếc nôi lưu giữ những trầm tích văn hóa mà những người đến sau có thể từ đó khám phá ra phần nào quá khứ. Thu Bồn là một dòng sông như thế...

< Cảng cá mới hình thành trên sông Thu Bồn, đoạn dưới làng Thanh Chiêm và trên phố cổ Hội An.

Ngồi thuyền từ bến Nồi Rang hay bến An Lương để vượt Thu Bồn sang đô thị Hội An ai cũng thấy cù lao Chàm với những dãy núi cao giăng giăng trước cửa Đại. Rồi theo đường thẳng cù lao Chàm - cửa Đại nhìn lên phía tây lại cũng là những dãy núi cao với mỏm nhọn hiện ra.

Kinh thành cổ Trà Kiệu - Simhapura

Những dãy núi đó là bức tường thành của thung lũng Mỹ Sơn - nơi có khu đền tháp Chăm là di sản văn hóa thế giới. Dưới Mỹ Sơn không xa, cũng trên đường thẳng cù lao Chàm - cửa Đại - Mỹ Sơn, là di tích kinh thành cổ Trà Kiệu, có tên gọi Simhapura - kinh thành Sư tử của người Chăm xưa.

Simhapura nằm kề bờ hữu Thu Bồn được xây dựng bởi vua Bhadravarman (380-413) và chỉ mới được các học giả người Pháp phát hiện rồi khai quật vào những năm 1927-1928. Quả thực người Chăm xưa đã có một cái nhìn thông suốt về địa lý - chính trị - kinh tế khi chọn Trà Kiệu làm kinh đô với ưu thế của Thu Bồn trong việc kết nối giao thông nội vùng và cả với bên ngoài vương quốc.

Do bị cư dân xâm chiếm làm nhà cửa, công trình tôn giáo, kinh thành cổ này chỉ còn lại một đoạn thành phía Nam dài 1.500m (rộng 30m, cao 3m) còn khá nguyên vẹn. Trong khá nhiều những di vật và thông tin thu được từ cuộc khai quật đầu tiên của nhà khảo cổ học J. Y. Claeys, di vật vô giá mà Simhapura để lại cho đời là “đài thờ vũ nữ Trà Kiệu” có kích thước lớn, bằng sa thạch, được trưng bày ở Bảo tàng Chăm Đà Nẵng.

Sau bao biến động, đổi thay, vùng Simhapura hoang phế nằm sát núi kề sông lại mở ra trang mới với công cuộc mở đất đầy cảm động của những lớp di dân mới.

541 năm trước, 13 di dân vùng Thanh Hóa, Nghệ An đã vào Trà Kiệu khai khẩn vùng đất bên sông bãi Thu Bồn và các chân núi Tào Sơn, Hòn Bằng, Bửu Châu để lập nên xã hiệu Trà Kiệu với hơn ngàn mẫu ruộng. Bên trang sử mở đất được truyền ghi, 333 năm trước dân làng Trà Kiệu đã xây nhà tự đường chung cho 13 vị tiền hiền này.

“Làng Trà Kiệu thời vua Thành Thái (1905) được chia thành năm xã là Trà Kiệu Thượng, Trung, Đông, Tây, Nam, gọi chung là Ngũ Xã Trà Kiệu. Nhưng từ đó đến nay người Ngũ Xã vẫn tụ tập về nhà thờ chung gọi là nhà thờ Ngũ Xã Trà Kiệu, được người Ngũ Xã chung sức làm lại hồi năm 1955, còn mãi đến giờ.

Cũng nhờ còn ngôi nhà thờ, còn các sắc phong, còn các ghi chép, điền bộ xưa mà hồi năm 2000 người Trà Kiệu mình mới tổ chức Lễ hội 530 năm Ngũ Xã Trà Kiệu đó...”, ông Dương Đức Quý - cư dân Trà Kiệu, nói về mái tự đường hiếm có trong lịch sử mở cõi về Nam.

Lụa Thu Bồn

Đây chính là của báu của Thu Bồn dành cho cư dân. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết: “Ở Quảng Nam lụa thuế chỉ lấy ở hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn. Phủ Thăng Hoa hàng năm nộp thuế lụa là 1.545 tấm. Thuộc Hoa Châu của phủ Thăng Hoa hằng năm nộp 809 tấm lụa thuế và 11 tấm lụa lễ, tất cả chứa trong 17 hòm để nộp”.


< Ươm tơ tại một xưởng ươm ở Chiêm Sơn, xã Duy Trinh.

Khó có thể nói một lượng lụa thuế lớn như thế thời bấy giờ lại không được lấy từ vùng dâu tằm lớn dọc hai bên bờ Thu Bồn vốn nằm trong hai địa hạt nói trên. Và ngày nay những người làm tằm tơ canh cửi bên sông không chỉ giữ được nghề xưa mà còn vươn đến công nghiệp dệt từ di sản lụa Thu Bồn của mình.

Giữa trưa, trong trại nuôi tằm của mình, ông Trịnh Anh ở làng dệt lụa Mã Châu miệt mài nhặt những con tằm già bỏ lên chà bủa dể chúng làm kén, kết thúc một lứa tằm. “Tính ra cũng sống được với nghề. Cái đất bên sông chịu cây dâu, cái nghề  tằm tơ canh cửi này là nghề cha truyền con nối của dân Thu Bồn mình mà"... , ông Anh nói.

< Kén tằm chín vàng nong đang chờ ươm.

Những người trồng dâu nuôi tằm lấy kén dọc sông Thu Bồn giờ còn lại không nhiều vì lụa tơ tằm không cạnh tranh nổi với các loại lụa làm bằng tơ nhân tạo ngoại nhập có giá rẻ. Kén tằm của người nuôi tằm Thu Bồn nay đang thiếu, được bán cho các lò ươm tơ trong vùng để kéo thành sợi cung cấp cho hai làng dệt lụa còn lại của vùng Thu Bồn là Mã Châu và Đông Yên (đều thuộc huyện Duy Xuyên).

Tặng vật lớn mà Thu Bồn trao tặng cư dân nơi nó đi qua có lẽ là những bãi biền thấm đẫm phù sa nằm dọc hai bờ ở vùng trung và hạ nguồn. Hiệp Thuận, Trà Linh, Tý, Sé, Bình Yên, Đại Bình, Duy Tân, Đại Thạnh, Đại Phước, Duy Châu, Chiêm Sơn, Thi Lai, Hà Mật, Bảo An, Xuân Đài... là những bãi biền từng ngút xanh cây dâu của các huyện Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn thời xưa cũng như những năm 1980 với hơn ngàn héc-ta, Thu Bồn chính là dòng sông tơ lụa!

Bên cạnh nghề dệt lụa, các xã dọc bờ Thu Bồn (nhiều nhất là ở huyện Duy Xuyên) nhiều chục năm qua đã chuyển thành những làng, những hợp tác xã, những công ty dệt bán công nghiệp và công nghiệp - “một hiện tượng về công nghiệp dệt ít có ở vùng nông thôn trong nước” như nhiều người nhận xét.


< Dệt vải từ sợi cotton ở xưởng dệt Hùng Sương (44 máy dệt) ở làng Mã Châu, thị trấn Nam Phước, toàn thị trấn có trên 2.000 máy dệt gỗ, sắt.

Những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, một số người ở các làng dệt lụa dọc Thu Bồn đã tìm đến định cư ở Sài Gòn. Nghề dệt lụa mang theo như hành trang, không chỉ giúp họ kiếm sống và vươn lên nơi đô thành mà còn giúp được quê nhà, đã lôi cuốn thêm nhiều lớp di dân từ quê nhà vào đó sống với nghề dệt lụa, dệt vải.

Một “dấu ấn” độc đáo của những thợ dệt Thu Bồn định cư ở Sài Gòn là họ đã lập nên một làng thuần rặt người Quảng Nam giữa Sài Gòn với đại đa số người sống bằng nghề dệt và các dịch vụ nghề dệt - làng dệt Bảy Hiền nay thuộc P.11, Q.Tân Bình, TP.HCM - một tương tác với sự phát triển của nghề dệt quê nhà Thu Bồn.

Có lẽ ít có dòng sông nào trên đất nước đến nay còn giữ được nghề dệt lụa ngay trên biền bãi phù sa của mình như Thu Bồn. Và có lẽ cũng không có mấy vùng cư dân đã chuyển hóa chiếc khung dệt lụa sang chiếc khung dệt các loại sợi khác để tồn tại và đi lên với dòng sông quê mình như những người dệt lụa đất này.
Xem thêm >
Sống cùng Thu Bồn (P1)

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Travel79.net

Sử thi về Hải đội Hoàng Sa

(BAVN) - Từ bao đời nay, ở huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) vẫn lưu truyền câu chuyện lịch sử về các anh hùng dân binh của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn đã dũng cảm chèo thuyền vượt sóng ra quần đảo Hoàng Sa để thực thi nhiệm vụ cắm mốc chủ quyền và bảo vệ biển đảo của quê hương.

< Hàng vạn du khách trong và ngoài nước về dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn.

Chuyến tàu đưa chúng tôi từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) ra đảo Lý Sơn vào một ngày cuối tháng Tư đông kín người. Dường như càng gần đến ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn thì những chuyến tàu từ đất liền ra đảo càng đông hơn.

< Đình làng An Vĩnh, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia, nơi thờ tự các âm linh của Hải đội Hoàng Sa.

Bởi theo lệ, hàng năm, cứ đến ngày này, con dân của đảo Lý Sơn dù đang sinh sống ở đâu cũng tìm về để dự ngày lễ tri ân các bậc tiền nhân của mình. Không những thế, ngư dân ở các tỉnh bạn như Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam… cũng nô nức đổ về Lý Sơn dự Lễ vì họ tâm niệm Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng như là ngày giỗ chung của nghề đi biển trong vùng.

< Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo Lý Sơn.

Trên chuyến tàu đó, tình cờ chúng tôi đã gặp Phạm Văn Biên, cậu sinh viên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Tp. Hồ Chí Minh và cũng chính là hậu duệ đời thứ 7 dòng họ Phạm nổi tiếng của Hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn. Cũng như bao nhiêu người dân Lý Sơn khác, Biên cũng đang trên đường về quê dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

< Ngôi mộ của Cai đội thuỷ quân Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn.

Biên kể: “Hồi mới ba, bốn tuổi em đã được bố mẹ đưa đi xem Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tính ra em cũng đã được xem Lễ này khoảng 20 lần. Chuyến này ra đảo em sẽ cùng các anh đi xem Lễ khao lề và tham quan các di tích lịch sử liên quan đến Hải đội Hoàng Sa”.

< Các bản chỉ dụ...

Những ngày ở Lý Sơn, Biên nhiệt tình đưa chúng tôi đi tham quan nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh trên đảo. Đảo Lý Sơn rộng chưa đầy 10 cây số vuông nhưng có tới gần 100 di tích và phần lớn đều gắn liền với Hải đội Hoàng Sa như: Âm linh tự, Khu mộ gió lính Hoàng Sa, Đình làng An Vĩnh, Đình làng An Hải, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết, Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, Búng bà Rí…

< ... thẻ bài và di vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa hiện còn được lưu giữ tại nhiều dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn.

Đặc biệt, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn đã được Nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia. Hải đội Hoàng Sa là tên gọi đội tàu hàng hải do chính quyền chúa Nguyễn xứ Đàng Trong lập ra từ hồi đầu thế kỷ 17 để làm nhiệm vụ đi khai thác sản vật, đo đạc hải trình, bảo vệ và cắm mốc chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo nhiều nguồn sử liệu chính thống, Hải đội Hoàng Sa ra đời vào khoảng trước năm Tân Mùi (1631), tức dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (trị vì 1613 - 1635), vị chúa thứ hai của nhà Nguyễn.

Minh chứng rõ ràng nhất cho sự ngưỡng vọng của người dân Lý Sơn đối với các bậc tiền nhân chính là di tích Âm linh tự. Đây là nơi thờ các dân binh của Hải đội Hoàng Sa đã gặp nạn hy sinh trên biển trong khi đang làm nhiệm vụ của triều đình.

< Thổi ốc u báo hiệu khai Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Đối với ngư dân Lý Sơn, trước mỗi chuyến ra khơi họ đều đến đây thắp hương làm lễ. “Ngư dân Lý Sơn đều tin rằng khi ra khơi họ sẽ được Hải đội Hoàng Sa phù hộ, che chở trước sóng to gió lớn. Đối với dân đi biển chúng em, điều này đã trở thành như một thứ tín ngưỡng anh ạ!” - Biên tự hào nói với chúng tôi.

< Các nhà sư làm lễ cầu siêu cho dân binh Hải đội Hoàng Sa.

Chuyên nghiệp như một hướng dẫn viên du lịch, Biên dẫn chúng tôi đến tượng đài Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải nằm ngay trên trục đường chính của đảo Lý Sơn. Biên giới thiệu cẩn thận từng hiện vật như manh chiếu, tấm thẻ bài, nẹp tre, cuộn mây…

< Lễ chánh tế Hải đội Hoàng Sa.

Đó là những vật dụng các dân binh Hải đội Hoàng Sa xưa thường phải mang theo trong mỗi chuyến ra Hoàng Sa, để nếu lỡ may có bỏ mạng giữa trùng khơi, đồng đội sẽ dùng để bó xác thả trôi xuống biển với ước mong nhờ sóng biển đưa về quê hương bản quán.

Nghe câu chuyện của Biên, Bà Han, chuyên viên khảo sát của một công ty du lịch Hàn Quốc có văn phòng đóng tại Tp. Hồ Chí Minh đến bắt chuyện. Nghe tin ở Lý Sơn có Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa nên bà đã thu xếp ra đây từ mấy hôm trước.

< Nghi thức tung gạo, muối...

Bà Han cho biết, câu chuyện về Hải đội Hoàng Sa và những di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh trên đảo Lý Sơn chính là cơ sở để công ty của bà mở tour du lịch đưa khách từ Hàn Quốc đến thăm đảo Lý Sơn. “Việt Nam và Hàn Quốc đều là quốc gia có biển đảo, vì thế tôi tin rằng du khách của chúng tôi sẽ khám phá được nhiều câu chuyện thú vị về những người anh hùng đi mở biển của đất nước các bạn” – Bà Han chia sẻ.

< ...và hát gọi hồn cho các dân binh Hải đội Hoàng Sa.

Rời Nhà lưu niệm, Biên dẫn chúng tôi đến nhà cụ Võ Hiển Đạt ở xã An Vĩnh, nghệ nhân chuyên làm các thuyền câu để phục vụ cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Gần đến ngày lễ trọng nên nhà cụ Đạt nhộn nhịp khác thường. Đám thanh niên trong xã tụ tập đến xem và học cách cụ Đạt làm thuyền câu. Cụ Đạt giảng giải: “Những chiếc thuyền này chính là mô hình của loại thuyền câu mà 400 trước Hải đội Hoàng Sa đã dùng để vượt sóng ra Hoàng Sa cắm mốc và đo đạc thủy trình”.

Cụ Đạt giới thiệu với chúng tôi người đệ tử chân truyền của mình là anh Phạm Văn Bổn. Anh Bổn theo cụ Đạt học nghề được 5 năm và đã làm được những mô hình thuyền câu theo đúng quy cách của người xưa để lại. Anh tự hào tâm sự: “Tục thả thuyền câu đã có từ hàng trăm năm nay và được xem là nghi thức chính của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Trên thuyền câu còn có cả những hình nhân thế mạng. Các hình nhân này được làm rất có hồn. Do đó, chỉ cần nhìn vào các hình nhân trên thuyền là thấy được cái khí thế oai hùng của cha ông chúng tôi lúc dong thuyền đi mở biển cách đây 400 năm”.

< Cụ Võ Hiển Đạt chuẩn bị mô hình thuyền câu và hình nhân thế mạng cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Chia tay cụ Đạt, chúng tôi đến nhà ông Phạm Thoại Tuyền, người được Biên ví như là một “nhà sử học” của đảo Lý Sơn. Ông Tuyền là hậu huệ đời thứ 5 của Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, người đã hy sinh trên quần đảo Hoàng Sa trong khi thực thi sứ mệnh của triều đình nhà Nguyễn đi cắm mốc chủ quyền và đo đạc thủy trình trên biển.

< Ngư dân Lý Sơn tiến hành nghi lễ thả thuyền câu.

Ngôi nhà ba gian đơn sơ của ông Tuyền treo đầy những bản đồ, hình ảnh và hiện vật về Hải đội Hoàng Sa và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông kể cho chúng tôi nghe về lịch sử hình thành Hải đội Hoàng Sa và vai trò quan trọng của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trong đời sống văn hóa, tâm linh của người dân Lý Sơn. Theo lời ông Tuyền, vua Minh Mạng (1791 – 1841) đã từng ra chỉ dụ, trong đó có câu “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” có nghĩa là “Đối với lãnh hải nước ta thì Hoàng Sa là cực kỳ quan trọng”. Còn người dân Lý Sơn lại có câu ca dao: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng 2 khao lề tế lính Hoàng Sa”. Ông Tuyền tự hào cho biết thêm: “Đối với người dân Lý Sơn chúng tôi Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như là báu vật. Các anh dự lễ sẽ thấy rõ điều đó”.

Theo chân ông Phạm Thoại Tuyền, chúng tôi đến thắp hương ngôi mộ gió Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật. Giải thích về về sự hình thành các ngôi mộ gió trên đảo, ông Tuyền cho biết, ngày xưa vào khoảng tháng 2, các dân binh Hải đội Hoàng Sa lên đường đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, đến tầm tháng 8 mà không thấy trở về thì gia đình xem như đã hy sinh.

< Nghi lễ thả thuyền câu và hình nhân thế mạng xuống biển là nghi thức quan trọng nhất của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Để có mộ phần làm nơi hương khói, gia đình mời nhà sư lấy đất sét trên đỉnh núi Giếng Tiền, đất ở ngã ba đường, lòng đỏ trứng gà và cành dâu nặn thành hình hài tượng trưng rồi đem chôn. Nhiều thế hệ người dân Lý Sơn đã tham gia Hải đội Hoàng Sa có đi mà không về, nên trên đảo có hàng trăm ngôi mộ gió và hình nhân trên thuyền câu trong Lễ khao lề cũng được làm như thế.

Ngày khai hội Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, khi những hồi ốc u thổi rền vang ngân dài khắp đảo Lý Sơn, từng dòng người từ khắp nơi quy tụ về đình làng An Vĩnh. Ban thờ chính được đặt trang nghiêm trước sân đình và quay ra hướng biển. Các bô lão thuộc lục họ (tức 6 dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn) trang phục chỉnh tề, nghiêm cẩn tiến hành các nghi lễ để tưởng nhớ và tôn vinh Hải đội Hoàng Sa như: lễ cầu siêu, lễ chánh tế, lễ thả thuyền câu thế mạng lính Hoàng Sa...

Theo lời cụ Võ Hiển Đạt, xưa kia các bậc tiền nhân vâng mệnh triều đình đi cắm mốc và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Trùng dương cách trở, nhiều người chỉ đi mà không thấy về. Để tưởng nhớ những người đã nằm xuống, hàng năm, vào khoảng tháng Hai âm lịch, các tộc họ ở Lý Sơn đều tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Vì thế, họ tộc nào có người hy sinh ở Hoàng Sa cũng đều tổ chức Lễ khao lề thế lính. Dần dần, lễ thức này đã trở thành lễ thức chung của người dân Lý Sơn. Khao lề là lễ tế sống các dân binh với mục đích tôn vinh và tri ân những người lính dũng cảm, dám hy sinh thân mình vượt sóng ra Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Buổi tối, dưới ánh đèn vàng của Nhà thờ Chánh suất đội thủy quân Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, Biên đã kể cho chúng tôi nghe những dự định và hoài bão mong muốn được làm một cái gì đó thật ý nghĩa để tri ân công đức các bậc tiền nhân. Biên tâm sự: “Em đã thu nhập được khá nhiều tư liệu, sau này ra trường em mơ ước sẽ làm được một bộ phim tái hiện lại hành trình bi hùng của Hải đội Hoàng Sa trong quá trình đi thực thi chủ quyền biển đảo của mình”.

< Hội đua thuyền tứ linh thể hiện tinh thần thượng võ của ngư dân Lý Sơn trong ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Lời tâm sự đầy nhiệt huyết của chàng trai trẻ và tiếng ốc u rền vang lẫn trong tiếng sóng biển vọng về như đưa tôi quay trở lại với thời quá khứ xa xôi, ở đó có câu chuyện bi tráng mang đậm chất sử thi về những người dân binh miền biển, những người đã hy sinh thân mình nằm lại giữa biển khơi để gìn giữ biển trời thiêng liêng của đất nước.
Xem thêm >

Theo Thông Thiện - Công Đạt (Báo Ảnh VN)
Travel79.net

12 món vỉa hè ở Sài Gòn

(Guu) - Sài Gòn không chỉ nổi tiếng bởi những tòa nhà chọc trời hay những khu trung tâm mua sắm tráng lệ, nó còn được biết đến với một nền ẩm thực phong phú, đa dạng.

Ẩm thực Sài Gòn, một nơi hội tụ nét văn hóa ẩm thực đặc trưng nhiều vùng miền khác nhau. Các món ngon không chỉ được phục vụ trong những nhà hàng, quán ăn sang trọng mà ngay cả ẩm thực vỉa hè cũng như một mê lộ khiến bạn khó lòng mà thoát ra được. Các món ăn vặt vỉa hè Sài Gòn có một mức giá bình dân nhưng hương vị món ăn ngon tuyệt, lạ miệng mà ai đã từng nếm qua thì không dễ dàng quên được.

1. Bánh tráng trộn/nướng

Bánh tráng trộn là một trong số những món ăn vặt có nguyên liệu chế biến đơn giản nhất nhưng ngon khỏi chê. Chỉ với nguyên liệu đơn giản như bánh tráng cắt sợi, trộn với tôm khô chiên mỡ, các thành phần còn lại thay đổi theo người bán, thường là phổi bò cháy, rau răm, đu đủ chua sợi, sốt tương, đậu phộng,... nhưng khi trộn đều với nước mắm sốt me ngọt và rau răm, món ăn lại mang một hương vị khá thơm ngon, ăn hoài không chán.

Bánh tráng nướng được phết một lớp trứng cút lên bề mặt cùng với thịt băm và mỡ hành, nướng kỹ cho đến khi có màu vàng rộm và vị thơm của trứng lan tỏa. Bánh tráng nướng không chỉ là món ăn hấp dẫn các chị em mà cánh đàn ông cũng khó từ chối chiếc bánh nóng hổi, giòn và thơm phức này.

2. Ốc

Từ con hẻm nhỏ đến mặt đường lớn, không khó tìm một quán ốc để dừng chân. Quán ốc là từ gọi chung, bởi ở đó còn có nhiều loại hải sản khác. Có đủ cách chế biến để món ốc luôn hấp dẫn, từ hấp, luộc, xào, chiên đến nướng, đút lò… với đủ thứ gia vị như tỏi, hành, tiêu, ớt, rau răm…

3. Phá lấu

Phá lấu là món ăn quen thuộc của người Hoa, làm từ nội tạng động vật. Có rất nhiều loại phá lấu: phá lấu heo, phá lấu gà vịt, phá lấu bò… Trong đó, món phá lấu bò được ưa thích hơn cả.

Đây là món ăn dân dã, ngon miệng, có sức cuốn hút đến kỳ lạ không chỉ đối với học trò nhỏ mà cả giới sinh viên, công chức. Bạn có thể ăn phá lấu với bánh mì, hoặc mì gói hoặc độc hơn là phá lấu nướng hoặc chiên.

4. Bột chiên

Bột chiên là món ăn đơn giản làm từ bột gạo, giòn bên ngoài, dẻo bên trong, là món vặt hết sức hấp dẫn. Tùy từng nơi và khẩu vị khách mà món bột chiên sẽ được chế biến khác nhau. Những miếng bột vàng giòn, điểm chút xanh của hành lá, phơn phớt đu đủ, đo đỏ của tương ớt, thơm lừng trứng chiên đã làm mê mẩn bao cư dân Sài Gòn.

5. Xiên chiên/nướng

Cá viên, bò viên, tôm viên, đậu bắp, đâu hũ… sau khi xâu lại thành từng xiên sẽ được đem chiên trong chảo dầu nóng cho đến khi những viên thịt phồng to, cháy vàng.

Món này ăn với tương ớt và tương đen có vị cay nồng, mằn mặn, giòn dai, nhai sần sật, không quá mềm cũng không quá cứng. Ở một số nơi còn ăn kèm với củ cải, cà rốt ngâm giấm, dưa leo…

6. Chè

Không ngọt gắt như chè Huế, nhiều hương liệu như chè Bắc, chè Sài Gòn ngọt thanh bởi nước cốt dừa, đá bào. Đặc biệt, chè Sài Gòn có những biến tấu thú vị với mứt trái cây thái chỉ, cốm dẹp, bột báng…

7. Súp cua

Đây là một món ăn được ưu chuộng bất kể trời nóng hay lạnh, cũng là món được được bày bán từ nhà hàng ra đến hè phố.

Một chén súp ngon thường nóng hổi, có màu trắng của trứng gà, màu đỏ của thịt cua, mùi thơm của tiêu, của rau ngò. Thêm một chút ớt, chút dầu mè, ăn hoài không chán.

8. Bò bía

Bò bía là món ăn dân dã, cách làm vô cùng đơn giản. Chỉ cần cuốn hỗn hợp củ sắn, tép khô, xà lách, rau thơm, lạp xưởng, trứng trong một miếng bánh tráng mỏng là đã có một cuốn bò bía. Bò bía ngon ở nước chấm. Tương hột được chưng lên là món chấm không thể thiếu của bò bía miền Nam. Nước chấm phải vừa đủ ngọt của đường, hơi cay của ớt, beo béo của dầu và bùi bùi của đậu phọng. Người lần đầu ăn loại nước chấm này sẽ thấy vị thật lạ, nhưng đã ăn một lần thì rất khó quên hương vị nước chấm này.

9. Chim cút chiên bơ

Món chim cút chiên bơ hấp dẫn người đi đường bởi hương thơm ngào ngạt. Chim cút chiên bơ ngon là những con chim cút ánh màu nâu vàng tự nhiên chứ không phải màu đỏ thực phẩm.vị béo mềm của phần thịt.

Khi ăn, phần thịt phải béo, mềm, còn phần đầu, cánh và chân phải giòn tan. Nước sốt chim cút cùng ổ bánh mì nóng hổi cũng là một trong những đặc điểm khiến món ăn này hấp dẫn những cái bụng chưa hay đang đói.

10. Gỏi khô bò

Gỏi khô bò là một món ăn đơn giản, dễ chế biến. Đi ăn gỏi khô bò cũng chẳng phải đợi lâu. Vừa gọi món đã có ngay một đĩa gỏi khô bò đầy màu sắc mà ngon miệng.

Khô bò thường là loại phổ bò qua chế biến và ướp gia vị kỹ càng, không giống như loại khô làm từ thịt bò được đóng gói bán sẵn trong các siêu thị. Gỏi khô bò phải ăn với đu đủ bào. Đu đủ được bào sợi, ngâm nước muối để khử mủ vào tăng độ giòn. Phía trên được trang trí bởi mấy cộng rau răm thái nhỏ, tăng mùi vị và tạo màu sắc bắt mắt thanh nhã, lại thêm mấy hạt đậu phụng rang vàng giòn rụm.

Gỏi đu đủ khô bò hơn thua nhau ở nước trộn gỏi, hương vị nước trộn mỗi nơi đều có bí quyết riêng. Nước gỏi ngon thường được pha giữa giấm, nước tương và nước ớt. Tùy theo liều lượng pha mà ra hương vị ngon hay dở. Ăn gỏi khô bò không thấy no, rất nhẹ bụng mà lại kích thích vị giác.

11. Bắp xào

Món ăn vặt thường được bán trên chiếc xe đẩy lưu động dọc lề đường. Đi ngang qua chiếc xe bắp xào, mùi thơm của bơ quyện với mùi hành nóng khiến nhiều người phải dừng xe lại mua ngay một hộp. Từng hạt bắp vàng thấm bơ, mỡ hành, kèm theo con tép nhỏ nhỏ ăn mặn mặn rất ngon.

12. Hủ tiếu gõ

Đặc trưng của món ăn này là âm thanh do người bán hủ tiếu tạo ra bằng thanh tre và chiếc muỗng inox gõ vào nhau tạo thành âm thanh cốc cốc đi khắp con đường, ngõ hẻm. Người muốn ăn, chỉ cần bước ra ngõ, gọi một tiếng là vài phút sau đã có một tô hủ tíu nóng sốt với hủ tíu, vài lát thịt mỏng, vài cọng giá, cọng hẹ, hành khô và miếng tóp mỡ bùi thơm.

Sức hấp dẫn của món ăn nằm ở chỗ chẳng có gì đặc biệt nhưng khi kết hợp với nhau lại làm nên một hương vị "ngon không bình thường". Món hủ tíu mì khô thường đi kèm với chén nước dùng trong vắt, nổi bật vài cọng hẹ xanh mát.

(Theo Tạp chí Guu)

Sống cùng Thu Bồn (P1)

(TTO) - Thu Bồn là dòng sông lớn của Quảng Nam và cả miền Trung, nối Ngọc Linh - dãy núi thiêng của Trường Sơn có đỉnh cao gần 2.600m với biển Đông qua cửa Đại. Chảy cùng dòng sông là những bến cảng, những nền văn minh lớn với những kinh đô, thành quách, những phố thị cổ xưa cùng những thôn làng rần rật mạch sống hôm nay.

< Cảnh đặc trưng của dòng Thu Bồn ở đoạn trung nguồn.

Là một trong những dòng sông nội địa có lưu vực lớn nhất ở nước ta, Thu Bồn với dòng chảy hết sức cuồng mãnh như góp phần rèn đúc sức dẻo dai cho những con người sống cùng con nước...

Đứng trên cầu Câu Lâu bắc qua Thu Bồn trên quốc lộ 1 nhìn lên hướng tây không ai có thể nhận ra đâu là dãy Ngọc Linh giữa Trường Sơn ngút mắt. Nhưng nhìn xuống hướng đông không xa là có thể thấy cửa Đại, nơi dòng nước Thu Bồn hòa với biển Đông.


< Chùa Thanh Lương vẫn được quen gọi chùa Trung Phường, được xây trên nền chùa Trung Phường xưa - nơi hành hương, cúng bái của các thương nhân nước ngoài thời xưa mỗi khi cập cảng Trung Phường.

Nằm cách cửa Đại không đầy 2km về hướng tây nam bên bờ hữu Thu Bồn nơi có cảng cá và bến thuyền nhỏ, khó có ai hình dung đây từng là một thương cảng quốc tế của "Con đường tơ lụa trên biển", tiền thân của cảng thị Hội An vang tiếng nằm ngay phía bên kia...

Cảng xưa, chùa cũ

Mới mờ sáng bến An Lương đã có nhiều thuyền cá cập bến và thuyền đưa khách vượt Thu Bồn sang phường Cửa Đại và phố cổ Hội An. Cảnh trên bến dưới thuyền càng rộn rịp khi hàng chục xe đông lạnh nối nhau chờ lấy cá, công nhân các xưởng cá đưa cá philê ra phơi bên bãi. Trong gió sớm, mùi nước mắm phả ra từ những lò lọc quanh chợ thật ấn tượng.

Bến chợ An Lương nay thuộc thôn An Lương, xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, nhưng nhiều người vẫn gọi đây là bến chợ Trung Phường dù Trung Phường nay là một thôn nằm kề dưới An Lương. Tiếng tăm một thời của một cảng thị Trung Phường to lớn bên bờ Thu Bồn đã in đậm trong tâm thức cư dân vùng hạ Thu Bồn dù họ chỉ được nghe kể lại.

“Ông cha mình truyền lại rằng Trung Phường là một thương cảng lớn của người Chăm xưa. Tàu thuyền các nước từ Trung Hoa, Nhật Bản cho đến Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... thường cập cảng Trung Phường để lấy hàng hóa như tơ lụa, quế, cau, trầm hương cũng như lấy thêm lương thực, nước ngọt...” - lão làng Nguyễn Thọ (91 tuổi) ở sát chợ An Lương kể.

Cảng Trung Phường xưa nằm dưới bến chợ An Lương chỉ chừng dăm trăm mét, là chỗ cuối cùng của hữu ngạn Thu Bồn. Dấu tích cảng xưa còn lại là một âu thuyền bị bồi lấp, nay được gọi là bàu Trung Phường, nằm bên doi cát lớn sát biển - một dâu bể tận cùng do dòng chảy cuồng bạo của con nước Thu Bồn mùa lũ.


< Cầu Cửa Đại - cây cầu cuối dòng Thu Bồn đang được xây để mở rộng đô thị du lịch Hội An sang bờ nam Thu Bồn gồm các xã Duy Hải, Duy Nghĩa (huyện Duy Xuyên).

Kề doi cát biển và bàu Trung Phường nay vẫn là làng mạc với ít nhất năm giếng nước của người Chăm xưa còn lại. Giếng được xây bằng loại gạch mà người Chăm đã dùng để xây tháp, ngâm mình dưới nước ngót ngàn năm nay vẫn không bị hư hại, là nơi cung cấp nước ngọt cho các tàu thuyền cập cảng.

Một di sản của Trung Phường ghi dấu "Con đường tơ lụa trên biển" là ngôi chùa với rất nhiều vật cúng dường từ thương nhân các nước. Qua nhiều lần được trùng tu rồi xây lại, ngôi chùa nay có tên là Thanh Lương nhưng vẫn được quen gọi là chùa Trung Phường. Ông Nguyễn Tấn Ngọc - trưởng ban trị sự chùa Trung Phường - kể ngôi chùa lúc khởi nguyên vốn được xây toàn bằng gạch Chăm, là nơi hành hương, cúng bái của những người đi trên tàu buôn mỗi khi cập cảng.


< Những làng quê bên sông ở các “ốc đảo” Cẩm Kim, Cẩm Nam, Cẩm Thanh đẹp thế này luôn thu hút khách đến.

“Không đếm hết được số tượng những thương nhân nước ngoài tặng cho chùa Trung Phường. Do bị bom đạn trong chiến tranh làm sập chùa, tượng bị mất gần hết. May là pho tượng Đức Thích Ca do thương nhân Nhật tặng còn giữ lại được, còn pho tượng Phật của người Chăm lưu lại thì chỉ còn lại phần đầu. Tiếc lắm...”, ông Ngọc kể.

Phố cổ và những cù lao

Phố cổ Hội An trông đẹp hơn khi đứng từ cồn An Hội nhìn sang. Phần tặng vật độc đáo nhất mà Thu Bồn cho cư dân vùng cuối dòng là những “cù lao” mà khi chảy đến đây sông chẻ dòng ra làm nhiều nhánh rồi tải phù sa về bồi đắp để những bãi cồn được mình bao bọc mỗi năm một rộng lớn thêm.


< Phố cổ Hội An đẹp một phần nhờ đứng cạnh bên sông.

Cồn An Hội nay đường đường là phố phường hiện đại khi được nối liền với phố thị Hội An bằng những cây cầu bắc qua sông Hoài - một nhánh chẻ rất ngắn của Thu Bồn. Theo người dân nơi đây, cồn cũng chỉ mới có được diện tích như bây giờ qua sự bồi đắp phù sa dăm chục năm qua.

Cũng bởi dòng chảy Thu Bồn trào tuôn dữ dội vào mùa lũ, những bến cảng ở cuối dòng sông này thời trước thường mau bị bồi lấp. Thương cảng Trung Phường đã bị xóa sổ trên bản đồ "Con đường tơ lụa trên biển" để nhường chỗ cho Hội An ở phía đối diện. Và rồi thương cảng mới bên sông này lại cũng bị phế bỏ như cảng thị Trung Phường một phần cũng vì vậy.

Cảng mất, nhưng phố thị vẫn còn. Hội An đẹp nhờ có Thu Bồn làm gương cho phố soi hình. Có đi thuyền từ An Lương hay Nồi Rang - những bến đò nằm ở hữu ngạn Thu Bồn, nhìn sang mới thấy cái đẹp của phố thị Hội An bên mép nước một đại giang. Sau ngày Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới (1999), lượng du khách đến đây mỗi năm càng tăng.


< Tham quan, mua hàng lưu niệm ở làng mộc Kim Bồng ở “cù lao” Cẩm Kim bên bờ sông Thu Bồn là thú vui của du khách.

Bên cạnh những sản phẩm du lịch nhất định của phố cổ, niềm hứng khởi thêm vào cho du khách chính là đi thuyền trên sông Thu Bồn. Và cũng chính con sông này đã dẫn dắt khách du mở rộng bước chân khám phá, kéo dài thêm thời gian lưu trú của họ khi đến Hội An. Những “cù lao” Cẩm Nam, Cẩm Thanh, Cẩm Kim bên dòng sông lồng lộng đã cho họ những “toa” khám phá thiên nhiên, cuộc sống và con người vùng sông nước, bãi biền kề bên phố thị đầy hấp dẫn.

Từ Hội An, chỉ cần thuê xe đạp hay bách bộ vượt cầu đến Cẩm Nam, Cẩm Thanh hay đi đò sang Cẩm Kim là có thể hưởng được bầu không khí trong lành tỏa ra từ sông nước, bãi biền cùng vườn tược ngát xanh. “Nói thiệt, Hội An mà thiếu các điểm đến này sẽ ít hấp dẫn du khách...”, ông Phạm Đức Bàng, một cư dân Hội An, nói.

Sống cùng Thu Bồn (P2)
Xem thêm >

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Travel79.net

Lễ Căm Mường của người Lự

(DVO) - Trong đời sống tâm linh của người Lự, lễ Căm Mường “Kiêng Mường” đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được. Như thường lệ, lễ Căm Mường sẽ được tổ chức vào ngày 3.3 âm lịch hằng năm.

< Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ.

Người Lự có gần 5.000 nhân khẩu, chiếm 1,59% dân số toàn tỉnh Lai Châu; hiện đang sinh sống chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và Tam Đường. Ở Lai Châu chỉ có duy nhất một nhóm Lự đen “Lừ đăm”, để phân biệt với nhóm Lự trắng “Lừ Khao” ở Trung Quốc.

< Theo truyền thống, mỗi gia đình cử một đại diện là nam giới tham gia lễ cúng bản. Thủ tục cúng lễ chia làm bốn phần là: lễ thỉnh Thần, lễ khẩn cầu, lễ Căm Mường và nghi lễ kết thúc.

Trong đời sống tâm linh của người Lự, lễ Căm Mường “Kiêng Mường” đóng một vai trò rất quan trọng, ẩn sâu trong đó là ý nghĩa nhân văn, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của mỗi bản mường người Lự, và đây cũng là dịp để họ cầu cho những điều may mắn sẽ đến với mọi gia đình trong năm tới.

< Lễ tế gắn với sự thành kính và ước nguyện tốt đẹp của dân bản.

Lễ Căm Mường mở đầu với phần lễ thỉnh thần, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ, nội dung này đề cập đến lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ Căm Mường và những người sẽ thụ lễ lần này.

< Phần lễ không có khèn, sáo, trống hay bất kì loại nhạc cụ nào, vì theo quan niệm của người Lự sẽ làm ảnh hưởng tới sự thần bí, linh thiêng khi thực hiện những nghi thức cúng lễ.

< Đây cũng là dịp các cô gái Lự lựa chọn những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất.

Căm Mường chính là lễ để bà con dân bản thể hiện lòng thành kính dâng tế lễ vật lên các vị thần. Khi phần lễ kết thúc là đến phần hội, mọi người trong bản sẽ cùng nhau múa, hát những bài dân ca truyền thống của dân tộc mình từ xa xưa để lại và cả những bài dân ca mới.

< Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình.

< Cùng với các bài hát, trong lễ hội còn có các trò chơi như kéo co, đẩy gậy...

Các chàng trai, cô gái sẽ cùng nhau hát dao duyên đối đáp và chơi những trò chơi của tộc người Lự. Trong thực tế thì chính từ lễ hội này đã là cầu nối xe duyên cho biết bao chàng trai cô gái, để họ được sống bên nhau đến trọn đời.

< Tó cáy thể hiện sức mạnh của mỗi người. Trong cuộc đua vui nhộn này nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới. Vì vậy, thầy cả té nước cầu may, để gột rửa những điều không may mắn.

Bên cạnh những nét đẹp văn hóa của dân tộc Lự như: kiến trúc nhà sàn, nghề dệt, tục nhuộm răng đen… Lễ Căm Mường không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, gắn với giữ rừng cấm, rừng thiêng mà còn là sinh hoạt cộng đồng gắn kết dân tộc.

Tuần lễ “Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam tại Hà Nội đã tái hiện lễ hội Căm Mường của người Lự ở xã Nậm Tăm (Sìn Hồ).

Theo San Nguyễn (báo Dân Việt)
Travel79.net