Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Tráng sĩ kinh hồn xây xác giặc (Kỳ cuối)

(TTO) - “Tầm nhìn chiến thuật để giăng bẫy cọc rất quan trọng. Nhưng điều sinh tử là phải tính chính xác được mực thủy triều và dẫn dụ đối phương vào đúng thời khắc chọn lựa đó. Chỉ trễ hoặc sớm một chút là bãi chông ngầm dưới mặt nước sẽ mất tác dụng”, TS Lê Thị Liên nói. Theo nhà nghiên cứu trận thủy chiến lịch sử này, vua tôi nhà Trần đã sử dụng mưu trí thành công để quét sạch kẻ thù trong trận đánh cuối cùng.

Giờ quyết định

Rạng sáng 9-4-1288 (ngày 8-3 năm Mậu Tý), Ô Mã Nhi cho đội chiến thuyền 600 chiếc với gần 5 vạn thủy binh xâm lược rẽ vào nhánh sông Đá Bạc. Viên thủy tướng mấy phen thảm bại đến suýt bỏ mạng ở Đại Việt một lần nữa chui đầu vào cửa tử.

Trước đó, đội phục binh của nhà Trần giao chiến dữ dội với quân Nguyên Mông tại Trúc Động nhằm buộc đoàn chiến thuyền xâm lược này không thể tiếp tục tiến theo sông Giá ra biển, mà phải rẽ sang nhánh Đá Bạc, vào đúng trận địa cọc chông đã giăng sẵn ở cửa sông Bạch Đằng. Ba năm trước đó, trong đợt xâm lược nước Việt lần thứ hai, chủ tướng Toa Đô thua trận bỏ mạng ở trận chiến sông Hồng. Ô Mã Nhi phải chui vào chiếc thuyền nhỏ, trốn chạy nhục nhã. Lần phục hận thứ ba này, tướng giặc xâm lược lại tiếp tục thua trí những người vệ quốc.

Theo các sử liệu, thư tịch cổ, chân trời phía biển Đông gần ửng lên cũng là lúc đoàn chiến thuyền Nguyên Mông tiến vào luồng chính của dòng Bạch Đằng ở đoạn gần núi Tràng Kênh. Thủy triều sau một đêm dâng cao bắt đầu rút nhanh, nước ào ào đổ về cửa biển. Trước mặt đoàn quân xâm lược lối thoát đã ngay trước mắt. Tuy nhiên, đây cũng chính là bẫy trận địa lớn nhất của quân dân nhà Trần đã dựng sẵn. Phục binh cả thủy lẫn bộ trải sẵn ở núi rừng hai bên bờ sông và khóa chặt đường trở lùi của Ô Mã Nhi. Còn phía trước là các bãi cọc chông chờ sẵn. Khi đoàn chiến thuyền Nguyên Mông phát hiện điều này thì quá muộn. Dòng thủy triều rút ra biển đã cuốn luôn cả đoàn chiến thuyền gần 600 chiếc lao đầu vào thẳng các bãi cọc.

< Các binh khí trưng bày ở Viện Văn hóa Bạch Đằng, Quảng Yên.

Theo TS Lê Thị Liên và TS Nguyễn Việt từng nhiều năm nghiên cứu, khảo cổ trận địa Bạch Đằng, tài quân sự của danh tướng Trần Hưng Đạo và các vua Trần được thể hiện chính thời khắc quyết định này. Sau khi đánh cắt đứt kỵ binh của Trình Bằng Phi trên bờ sông có nhiệm vụ hỗ trợ thủy quân Ô Mã Nhi, quân Việt lại chặn thuyền giặc ở sông Giá. Tuy nhiên, họ dẫn dụ được giặc rẽ vào sông Bạch Đằng, nơi có bẫy cọc, cũng mới chỉ là thành công bước đầu. Yếu tố cốt tử trong trận thủy chiến này là phải kiểm soát được tốc độ đoàn thuyền chiến Ô Mã Nhi sao cho chúng đến bãi cọc vào đúng thời khắc thủy triều vừa rút, đầu cọc lộ lên đến tầm phá hủy được tàu bè. Chiến thuyền đến sớm hoặc trễ hơn đều có thể phá sản chiến thuật bẫy cọc bởi lúc nước triều đang cao, thuyền giặc lướt qua mặt sông mà không đâm phải cọc chìm sâu bên dưới. Còn nếu lúc thủy triều rút xuống quá thấp, chúng sẽ sớm phát hiện được bẫy cọc từ xa.

Cả Nguyên sử lẫn An Nam chí lược đều ghi ngay từ trước trận chiến chính tại cửa Bạch Đằng, thủy quân Nguyên Mông phải đối mặt với một loạt trận khiêu chiến của quân Trần. Trong đó có trận Nguyễn Khoái cùng dân binh đối mặt với tướng giặc Lưu Khuê, rồi giả thua bỏ chạy. Các chiến thuật này đều không nằm ngoài kế hoạch dụ quân xâm lược vào đúng trận địa bẫy cọc ở thời điểm triều bắt đầu rút. Trước đó, vua tôi nhà Trần thực hiện một cuộc tổng huy động dân binh vĩ đại để đóng hàng hàng lớp lớp cọc giăng ngang dòng chảy cửa Bạch Đằng cùng các nhánh phụ như sông Chanh, sông Rút. Thời gian thực hiện chỉ vỏn vẹn hơn mười ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4-1288. Sau này, các công trình khảo cổ tìm thấy nhiều cọc ở đầm Yên Giang, Vạn Muối, Má Ngựa chính là một phần của bãi cọc chiến sự đó. Hơn 700 năm trôi qua, sự chuyển dịch dòng chảy và bồi tụ đã làm nhiều phần bãi cọc không còn nằm ở đúng vị trí các dòng chảy của cửa sông Bạch Đằng hiện nay.

Quét sạch kình ngạc

Chiến sự bắt đầu bùng nổ dữ dội vào tảng sáng 9 - 4. Đại Việt sử ký toàn thư tường thuật diễn biến: “Ngày hôm ấy, nhân lúc nước triều lên, Hưng Đạo cho quân khiêu chiến, rồi giả cách thua, quân giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền của giặc bị vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh dực nghĩa dũng đánh nhau với giặc, bắt được Bình chương Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuối không xiết kể, nước sông đến nỗi đỏ ngầu”. Chính Nguyên sử của quân xâm lược sau này chép lại cũng chua chát thừa nhận đã phải chịu đựng một trận đánh khốc liệt suốt từ sáng đến tối (giờ Mão đến giờ Dậu), trong cảnh thuyền quân Trần tập trung đông, tên bắn như mưa.

Ngoài bãi cọc phá hủy thuyền chiến, quân Trần còn dùng bè mảng cỏ khô đánh hỏa công để thiêu rụi và làm hoảng loạn tinh thần quân Nguyên Mông. Từ chân núi Tràng Kênh trên thượng lưu đến cửa sông Chanh, sông Rút, tức các dòng của hệ thống cửa sông Bạch Đằng dài hơn 2km, chỗ nào không có bãi cọc lại có phục binh Trần Hưng Đạo.

Máu đổ làm “nước sông đến nỗi đỏ ngầu” như sử xưa kể lại. Mô tả chiến sự hùng tráng này, Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, đã viết trong bài Phú sông Bạch Đằng lưu truyền hậu thế: “Bấy giờ... Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới/ Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói/ Sống mái chưa phân. Bắc Nam lũy đối/ Trời đất rung rinh chừ sắp tan/ Nhật nguyệt u ám chừ mờ tối ...”.

Đến chạng vạng tối cùng ngày 9- 4, trận thủy chiến khốc liệt cũng đến hồi kết thúc. Đoàn chiến thuyền quy mô 600 chiếc cùng 5 vạn quân xâm lược bị đánh tan tác hoàn toàn. Tất cả thủy tướng cầm quân giặc như Ô Mã Nhi, Lưu Khuê, Phàn Tiếp, Phạm Nhan, Tích Lệ Cơ... không chết trận cũng bị kéo từ dưới sông lên, bắt sống một cách nhục nhã. Quân Trần Hưng Đạo thu được đến 400 chiến thuyền. Mới một ngày trước Bạch Đằng giang còn đen nghịt chiến thuyền giặc, chỉ sau một trận đánh đã quét sạch bóng quân thù.

Nguyên sử Trung Quốc cay đắng kể sau ba đợt xâm lược đều phải đại bại thảm hại ở Đại Việt, đại hãn Hốt Tất Liệt lúc này đã là Nguyên Thế Tổ ở ngôi hoàng đế Trung Hoa, vẫn cay cú phục thù. Vó ngựa viễn chinh Mông Cổ từng xóa gọn Trung Hoa của nhà Tống, xâm lược khắp đất trời Á - Âu, không đành tâm chịu thất trận nhục nhã trước nước Việt bé nhỏ. Một đạo kỵ binh và chiến thuyền đông đến 1.000 chiếc lại được chuẩn bị hướng về nước Việt. Số lương ăn mang theo cũng lên đến 35 vạn thạch, nhiều gấp đôi đợt xâm lược lần thứ ba vào năm 1287- 1288... Tuy nhiên, chính vì e ngại sức mạnh Đại Việt, Hốt Tất Liệt phải kéo dài thời gian chuẩn bị, chần chừ mãi ngày tiến quân. Cho đến lúc chết trên giường bệnh, mộng xâm lược của viên hoàng đế này vẫn không thành.

Đời sau trên đường qua cửa Bạch Đằng, vua Lê Thánh Tông đã cảm khái đề thơ: “Tráng sĩ kinh hồn xây xác giặc/ Khí xuân bừng dậy nhuận đồng nương”. Nước Việt từ trận thủy chiến oanh liệt này hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược Nguyên Mông.

< Các nhà khảo cổ nước khảo sát ảnh vệ tinh trước khi dò tìm.

Chiến trường đâu chỉ loang máu ở bãi cọc Bạch Đằng. Rất nhiều chuyện truyền đời về dân binh đôi bờ Bạch Đằng đã cùng thủy quân nhà Trần tham chiến dữ dội với quân Nguyên Mông. Và bộ binh cũng góp phần tiêu diệt rất nhiều sinh lực địch. Nhà nghiên cứu Lê Đồng Sơn ở Bảo tàng Quảng Yên kể hàng trăm năm qua, các làng mạc đôi bờ sông này vẫn còn gìn giữ rất nhiều di tích liên quan đến trận Bạch Đằng, thuyền giặc không bị chìm tại bãi cọc đã tấp vào bờ để binh lính tìm cách thoát thân theo đường bộ, đặc biệt là bờ Yên Hưng. Nhưng chân chưa kịp ráo nước, chúng lại đối mặt với vòng phục binh thứ hai trên bộ. Trong đó, đảo Hà Nam ngày xưa là một cồn bãi của sông Bạch Đằng vẫn còn lưu truyền câu ca dao xưa: Bạch Đằng giang là sông cửa ải. Tổng Hà Nam là bãi chiến trường.

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5

Theo Quốc Việt (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Trận chiến hủy diệt giặc xâm lược (Kỳ 4)

(TTO) - “Cả một vùng sông nước từ núi Tràng Kênh đến cửa sông Chanh trải trên độ dài khoảng 2km, máu giặc chảy lênh láng. Ngoài số giặc bị giết chết, còn rất nhiều binh lính cùng chủ tướng Ô Mã Nhi bị quân ta bắt sống tại trận”.

Một buổi sáng cuối tháng 5, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, có mặt ở bảo tàng bên bờ sông Bạch Đằng (Quảng Yên), chỉ bản đồ kể lại cho những người trẻ nghe chiến tích hùng tráng của tổ tiên.
GS.TS Ngọc nói đây không chỉ là trận đánh duy nhất mà là cả một chuỗi chiến dịch dài đầy mưu trí để hướng đến cuộc thủy chiến quyết định thắng thua. Theo Nguyên sử của chính Trung Quốc, trong đợt xâm lược nước Việt lần thứ ba này, đại hãn Hốt Tất Liệt quyết tâm báo thù sau hai trận chiến bại nhục nhã trước một nước Việt bé nhỏ hơn rất nhiều.

Đẩy lui quân xâm lược

Kế hoạch tác chiến đã được chuẩn bị rất kỹ và có tầm nhìn xa. Ngoài cánh kỵ binh do chủ tướng Thoát Hoan cầm đầu tràn xuống phía nam theo đường sơn cước, gần 700 chiến thuyền có thể vận hành cả trên biển và đường sông cũng được xem như mũi tiến quân quan trọng. Hốt Tất Liệt cho đám tướng lãnh dày dạn kinh nghiệm thủy chiến như Ô Mã Nhi thống lĩnh đường thủy quân này. Ngoài lý do địa hình đường bộ xuống phía nam hiểm trở, nhiều trận địa phòng thủ, chiến thuyền Nguyên Mông còn có thể chở lương thực thuận tiện và chở được nhiều hơn đường bộ. Chúng đã rút kinh nghiệm cay đắng từ hai cuộc xâm lược trước khi tiến đến đâu đều gặp cảnh vườn không nhà trống, rất khó kiếm được lương thực vì nhân dân nước Việt sẵn sàng hi sinh, phá hủy tất cả những gì mình có để tiêu thổ kháng chiến.

Mùa đông năm 1287, hai cánh quân thủy bộ Nguyên Mông bắt đầu tràn xuống nước Việt một lần nữa. 17 vạn thạch lương trên 70 chiếc đại hải vận thuyền đi cùng cánh thủy quân tác chiến của Ô Mã Nhi. Theo sách Lĩnh ngoại đại đáp, hải trình này như sau: thuyền xuôi gió từ cửa vịnh Khâm (núi Ô Lôi, Trung Quốc) đến mũi Ngọc. Ở đó đến vùng biển An Bang mất hơn một ngày nữa. Từ đây, đoàn thuyền có thể lợi dụng thủy triều lên mà đi đến cửa Chanh, ngược lên sông Bạch Đằng rồi theo đường sông vào sông Lục Đầu để hội với cánh kỵ binh.

Tuy nhiên, cuộc hành quân không hề dễ dàng như vậy. Ngay từ đầu, thủy tướng Trần Khánh Dư của nhà Trần sau trận thua ở An Bang, đã phục thù thành công vào 70 chiến thuyền vận lương do Trương Văn Hổ áp tải. Chính Nguyên sử của Trung Quốc phải cay đắng thừa nhận trận thua đau đớn này: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái đậu ở Đồn Sơn, gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Đến biển Lục Thủy, thuyền Giao Chỉ thêm nhiều, liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng, không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rồi về Quỳnh Châu”.

Cùng với những trận đánh dữ dội trên bộ, thế tiến công của đội quân xâm lược Nguyên Mông dần mất hẳn, phải chuyển sang thế thủ, rồi đành rút lui thảm hại trước đà chiến thắng của đội quân vệ quốc nhà Trần. Trên đường tháo chạy về nước, chủ tướng giặc Trấn Nam Vương Thoát Hoan ban đầu định bỏ lại tất cả chiến thuyền để quân thủy, kỵ hợp thành một đường bộ. Nhưng sau đó lại nghe lời tướng lãnh, Thoát Hoan vẫn chia hai cánh thủy, bộ để rút lui như chính bản đồ hành quân xâm lược ban đầu. Chính việc tự chia rẽ sức mạnh quân đội này đã báo trước ngày tàn của quân Nguyên Mông.

Lao đầu vào cửa tử

Là một nhà nghiên cứu sâu về thủy quân trong lịch sử chống ngoại xâm, TS Nguyễn Việt cho rằng quân đoàn Nguyên Mông đã tự đưa đầu vào cửa tử. Tuy nhiên, việc giăng bẫy ở Bạch Đằng thành công là không hề đơn giản, đòi hỏi quân đội nhà Trần phải khôn khéo tổ chức cả một chiến dịch để lèo lái đoàn chiến thuyền xâm lược vào chính xác trận địa đợi sẵn. Những ngày ở Hải Phòng và Quảng Ninh, tôi đã nhiều lần đi ngược sông Bạch Đằng lên thượng lưu để cố tái hiện chiến dịch năm xưa của Trần Hưng Đạo. Người dân dọc theo thủy lộ này chỉ và kể cho nghe rất nhiều chuyện truyền đời lẫn các miếu, đền, gia phả, thần phả có liên quan đến các trận đánh dọc bờ sông này. Đặc biệt, đó là sự góp sức và máu xương của các đội dân binh.

Trên con đường ấy, Trần Hưng Đạo đã chuẩn bị kế hoạch tác chiến gồm cả quân đội chính quy và dân binh để chặn đánh giặc từng ngày. Trong lúc cánh thủy quân nhà Trần hối hả cắm cọc ở Bạch Đằng, thì quân bộ có nhiệm vụ chặn đánh kỵ binh Nguyên Mông trên bờ. Thật sự ngay từ đầu Thoát Hoan đã nhìn thấy thế hiểm nguy của thủy quân mình. Tướng giặc này cẩn thận cử thêm Trình Bằng Phi, một viên tướng người Hán đầu hàng quân Mông Cổ, cùng bộ tướng Đạt Truật dẫn đội kỵ binh men theo bờ tả ngạn, sẵn sàng hỗ trợ đội chiến thuyền rút lui đường sông. Trần Hưng Đạo hiểu rõ chiến thuật của đối phương, ông cho dân quân phá hủy cầu cống, liên tục đánh chặn để chia cắt đội kỵ binh. Bộ sử An Nam chí lược nhìn nhận tầm nhìn chiến lược của quân dân nhà Trần: “Ngày 3 tháng 3, hữu thừa Trình Bằng Phi, thiêm tỉnh Đạt Mộc, đem kỵ binh đưa chu sư (thủy quân) qua chợ Đông Hồ, vướng sông bèn trở về. Vì cầu cống đều bị quân kia cắt đứt, đón đợi ta mà đánh”.

Tính toán chiến thuật bộ, thủy hỗ trợ nhau của quân Nguyên Mông bị Trần Hưng Đạo phá tan ngay từ đầu. Sở trường thiện chiến nhất của kỵ binh Mông Cổ cũng không thể vượt nổi một đoạn đường ngắn từ Vạn Kiếp đến cửa Bạch Đằng, đành phải quay về nhập cùng bộ binh Thoát Hoan. Đội thủy quân Ô Mã Nhi bị bỏ mặc trên đường rút chạy ra cửa biển. Tuy nhiên, nếu xét về quân lực thì lực lượng Ô Mã Nhi vẫn còn rất mạnh với 600 chiến thuyền cùng hơn 4 vạn quân. Đặc biệt, các viên thủy tướng dày dạn chiến trường như Lưu Khuê, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ... cũng còn trực tiếp cầm quân đầy đủ. Sự thắng, thua của đội quân nhà Trần phụ thuộc vào mưu trí, biết dùng “đoản binh thắng trường trận” như chính tướng Trần Hưng Đạo nhận xét.

Những ngày đi ngược sông Bạch Đằng, tôi đã được các cụ cao niên kể cho nghe những mưu kế đánh giặc của tiền nhân. Cụ thủ từ Đào Xuân Tự ở đền Trần, Yên Giang, kể lời tổ tiên truyền rằng trên đường dẫn dụ thủy quân Nguyên Mông vào trận địa mai phục chính, dân binh đã tạo ra nhiều trận mai phục lớn nhỏ khác nhau để kẻ thù không còn làm chủ được kế hoạch hành quân ban đầu. Ở đoạn sông qua Trúc Động (nay thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng), dân binh nhà Trần nấu cơm rồi gói vào nhiều mo cau thả trôi sông, giả như binh lính trên thuyền làm rơi. Mưu trí này nhằm lừa kẻ thù về một trận mai phục lớn ở sông Giá để buộc chúng phải hướng vào cửa sông Bạch Đằng.

< Một đoạn Bạch Đằng, nơi diễn ra trận thủy chiến năm 1288.

Sử liệu như An Nam chí lược cũng kể Ô Mã Nhi đã cử tướng Lưu Khuê, một viên thủy tướng dày dạn kinh nghiệm giao chiến với quân Trần sau trận chết hụt thảm hại ở bến Hàm Tử năm 1285, thống lĩnh đội chiến thuyền tiên phong tiến đánh trận mai phục ở Trúc Động. Hai bên giao chiến với nhau kịch liệt đúng một ngày trước trận đánh quyết định cuối cùng ở Bạch Đằng. Trong trận đánh này, cả hai bên đều thiệt hại. Máu đỏ loang cả đoạn sông. Nhưng về chiến lược thì quân đội nhà Trần đã thắng khi Ô Mã Nhi e sợ không dám tiếp tục tiến theo sông Giá ra biển, phải lệnh cho toàn bộ đội thủy quân của mình rẽ vào dòng chính của sông Bạch Đằng.
Và một trận chiến hủy diệt toàn bộ đội thủy quân xâm lược đã đợi sẵn ở đây.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5

Theo Quốc Việt (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Bí ẩn hé lộ (Kỳ 3)

(TTO) - TS Lê Thị Liên, nhà khảo cổ hàng chục năm gắn bó với những công trình nghiên cứu bãi cọc Bạch Đằng ngay từ khi mới ra trường, đang khai quật một hố đất giữa mặt đầm ngập nước rộng mênh mông ở Yên Giang (huyện Yên Hưng, Quảng Ninh).

< TS Lê Thị Liên nghiên cứu khảo cổ học bãi cọc Bạch Đằng ở Yên Giang tháng 5-2014.

Gạt bùn sình lấm lem đầy trên mặt, TS Liên trầm ngâm tâm sự: “Ngày xưa ở vùng cửa sông này, quân dân nhà Trần không chỉ giao chiến với giặc Nguyên Mông dưới nước mà còn có cả nhiều trận đánh kết hợp trên bộ. Bãi chiến địa trải rộng từ địa hình sông nước đến bãi bồi, sơn cước. Các công trình khảo cổ nghiên cứu từ năm 1958 đến giờ mới chỉ hé lộ được phần nào bí ẩn của tổ tiên”.

Khám phá đầu tiên

Chỉ vào mấy đầu cọc gỗ vừa lộ lên sau nhiều ngày khai quật dưới bùn lầy, TS Liên nói đây chỉ là một vài chiếc cọc trong nhiều bãi cọc mà người xưa đã cắm làm trận địa giăng bẫy quân thù. Thế trận rất phức tạp, chằng chịt, không chỉ như hình dung đơn giản là cắm cọc ngang sông để chặn tàu giặc. Năm 1958, nhóm khảo cổ đầu tiên ngoài sàng lọc được những bãi cọc dân sinh cũng tìm thấy nhiều trận địa cọc quân sự. Ở bãi đầm xã Yên Giang, bên tả ngạn sông Chanh cách ngã ba sông Bạch Đằng và sông Chanh khoảng 414m, họ đã phát hiện bãi cọc dài 118m, rộng 20m. Các nhà khảo cổ cứ đào xuống là tìm thấy cọc trong diện tích bãi ấy. Địa chất tự nhiên rất rõ ràng với đất phù sa cổ. Hầu hết cọc đều là gỗ lim bền cứng được ưa dùng ở miền Bắc. Một số ít là gỗ táu còn nguyên cả vỏ. Các nhà khảo cổ đo chiều dài của chiếc cọc ở hố đào thứ nhất dài 1,75m, cọc ở hố thứ hai dài 2,65m với đường kính 31cm. Ở hố đào thứ ba họ còn tìm thấy cây cọc dài 2,8m. Tất cả đều được đẽo nhọn một đầu để cắm sâu xuống đất 0,5-1m với thế hơi nghiêng về hướng sông Bạch Đằng.

Hai nhà khảo cổ Phan Đại Doãn và Diệp Đình Hoa nghiên cứu đợt khảo cổ này căn cứ vào thư tịch xưa, những di tích lịch sử quanh vùng có liên quan đến trận đánh của Trần Hưng Đạo và vị trí, độ sâu bãi cọc, cách cắm... đã đưa ra nhiều cơ sở để cho rằng có thể đây không phải là cọc chiến sự từ thời Ngô Quyền hay Lê Hoàn hoặc muộn hơn thời Hồ Quý Ly, Tự Đức, mà đó chính là cọc bẫy giặc của Trần Hưng Đạo. Tuy nhiên, nó mới chỉ là một bộ phận nhỏ của bãi chiến trường oanh liệt đã tiêu diệt toàn bộ cánh thủy quân của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp ngày 8-3 năm Mậu Tý (1288).


< Cọc gỗ trưng bày ở Bảo tàng Quảng Yên.

Vào năm 1969, các nhà khảo cổ ở Hà Nội và Quảng Ninh lại tiếp tục nỗ lực giải mã bí ẩn bãi cọc Bạch Đằng. Lần này, khu vực khảo cổ ở bãi Yên Giang được mở rộng đến 520m với bảy hố đào lớn. Các nhà khảo cổ nhắm đến hai mục tiêu cơ bản là nghiên cứu tầng địa chất và cách bố trí bãi cọc. Năm lớp địa tầng đã được nghiên cứu cẩn thận. Trong đó lớp thứ năm ở độ sâu hơn 1m gồm bùn sét pha lẫn cát mịn màu hồng được cho rằng có thể đó chính là lớp lòng sông năm 1288. Những lớp mặt bên trên có xác thực vật, vỏ hàu được bồi trải theo thời gian. Đặc biệt, đợt khảo cổ quy mô này cũng tìm thấy nhiều cọc gỗ lim có độ nhỏ to 0,2-0,29m. Tất cả 32 cọc đã được tìm thấy dưới bảy hố đào chạy dài 113m và rộng 13m ngang qua sông Chanh, một nhánh của hệ thống cửa sông Bạch Đằng đổ ra biển Đông.

Tại sao nhiều bãi cọc được tìm thấy lại nằm rải rác trên bãi đầm mà không thuộc lòng sông Bạch Đằng hiện trạng, các nhà khảo cổ và địa chất, môi trường học đã khảo sát, nghiên cứu kỹ địa hình và địa mạo khu vực bãi chiến trường xưa. Các nhà khảo cổ nhận định sông Bạch Đằng xưa khi chưa có đê bao bao gồm cả một vùng rộng lớn, hiểm trở gồm sông Chanh, các dòng chảy băng qua đảo Hà Nam, sông Rút và cả sông Bạch Đằng hiện trạng. Luồng lạch phức tạp với nhiều bãi đá ngầm, bãi nổi cùng mực thủy triều rất mạnh.

Thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo đã nghiên cứu rất kỹ các yếu tố tự nhiên này, bố trí cắm cọc, dẫn dụ đoàn chiến thuyền Nguyên Mông vào đúng vị trí thuận lợi nhất để quyết chiến khi triều xuống. Đời sau đến thăm vùng cửa sông lịch sử, Nguyễn Trãi cũng nhìn thấy rõ thế hiểm này: “Cửa sông hiểm, hai người chọi trăm người do trời xếp đặt/ Hào kiệt công danh, đất ấy từng là một nơi”.

Kỹ thuật cắm cọc

< Thám sát tại bãi cọc Đồng Má Ngựa.

Sau đó các đợt khảo cổ năm 1976, 1984 lại được tiếp tục thực hiện ở khu vực này và củng cố thêm nhiều bằng chứng đó là bãi cọc chiến thuật của quân dân Trần Hưng Đạo. Trong những lần khai quật này, các nhà khảo cổ còn tìm thấy hai loại vồ đóng cọc lớn nhỏ khác nhau. Vồ nhỏ dài 1,2-1,3m, rộng 0,2m, đẽo đầu to đầu nhỏ, mặt gỗ đóng vào cọc được vát phẳng để không bị trượt. Loại vồ lớn hơn có chiều ngang 0,25m và dài 1,5m, đủ trọng lượng để người xưa đóng được cọc xuống đáy sông. Các nhà khảo cổ nghiên cứu người xưa có thể đã biết sử dụng kỹ thuật ròng rọc như chiếc búa máy để kéo chiếc vồ này lên cao và thả dộng xuống đầu cọc. Một đầu vồ vát nhỏ là để họ cầm điều chỉnh cho vồ đóng chính xác vị trí. Ngoài ra, các nghiên cứu khác cũng cho thấy còn có kỹ thuật đóng cọc đơn giản bằng cách cầm cọc dộng lắc xuống đáy sông. Đây là kỹ thuật đóng cọc vào đất bùn không cứng lắm mà dân gian đã có nhiều kinh nghiệm truyền đời.

Đặc biệt, TS Lê Thị Liên kể năm 1988 các nhà khảo cổ còn mở rộng nghiên cứu sang bãi đầm ở đồng Vạn Muối, đảo Hà Nam, xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng. Việc phát hiện cọc ở khu vực này cũng bắt đầu từ nông dân canh tác, đào ao nuôi cá. Nhiều cọc được phát lộ một cách không chủ ý và trong tình trạng rất tốt vì lâu nay được dìm ngập trong bùn nước. Người dân đã lấy một số cọc về làm nhà cửa, cây rơm, chuồng heo. Ngoài tìm được nhiều cọc có tình trạng còn nguyên vỏ như bãi Yên Giang, đoàn khảo cổ còn tìm được cả những cây gỗ đã được đẽo gọt để sử dụng trong sinh hoạt, canh tác. Nó chứng tỏ nhân dân vùng Bạch Đằng ngày xưa đã góp cả đồ đạc trong nhà mình vào trận địa chống ngoại xâm.

< Bùn đất không phải là môi trường lý tưởng của các cọc gỗ. Một góc bãi cọc Yên Giang.

Không dừng lại ở những phát hiện này, TS Lê Thị Liên và các nhóm khảo cổ với sự tham gia của người Nhật vẫn tiếp tục lần tìm các bí ẩn dưới lòng đất những năm 2005, 2009 và 2010. Trong các bãi khảo sát, khai quật khu vực đồng Vạn Muối, Má Ngựa trên đảo Hà Nam, họ phát hiện thêm hàng chục chiếc cọc, hầu hết đều được gìn giữ đúng vị trí và cho ngập trong nước để bảo tồn. Một số mẫu cọc tìm thấy năm 2009 ở bãi đồng Má Ngựa đã được đem phân tích đồng vị phóng xạ C14 để xác định niên đại và đã cho kết quả ở thế kỷ 13 cùng biên độ thời gian. Điều này trùng hợp với mốc thời gian diễn ra trận thủy chiến lịch sử giữa quân dân Trần Hưng Đạo và đội quân thủy xâm lược của Ô Mã Nhi diễn ra ở vùng Bạch Đằng này.

Còn hầu hết cọc gỗ đều thuộc nhóm tứ thiết như dân gian quen gọi (ý nói cứng bền như sắt thép) là đinh, lim, sến, táu. Ký ức truyền đời của người già và thư tịch xưa cũng ghi chép đây là vùng rừng rậm, có nhiều gỗ quý phủ đến tận bờ sông. Ngày nay, bên phố Ngô Quyền giữa thị xã Quảng Yên vẫn còn hai cây lim cổ có chu vi gốc lên đến gần 8m. Người dân quen gọi “cụ” lim Giếng Rừng, hai hậu duệ hiếm hoi còn sót lại từ đại ngàn đã góp gỗ quý cho trận đánh năm xưa.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5

Theo Quốc Việt (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô (Kỳ 2)

(TTO) - “... Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu/ Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô... Sông Đằng một dải dài ghê/Sóng hồng cuồn cuộn trôi về bể Đông/Những người bất nghĩa tiêu vong/Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh ...”.

726 năm sau, đọc lại bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, nhiều người vẫn xúc động với trận chiến vệ quốc lưu danh lịch sử. Ngoài môn khách cùng thời với Trần Hưng Đạo là Trương Hán Siêu, nhiều tác giả nổi tiếng khác như Trần Minh Tông, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông đều cảm thán miêu tả bãi chiến trường đẫm máu này. Tuy nhiên, dòng chảy thời gian và bao thời cuộc thăng trầm, chiến tranh, ly loạn đã làm cảnh vật nơi này đổi thay nhiều. Để làm rõ lại trận chiến oanh liệt của tiền nhân năm xưa là việc còn dài phía trước và rất khó khăn.

Điều ấn tượng là ngay trong quá trình tìm kiếm, sàng lọc bãi cọc dân sinh, các nhóm khảo cổ cũng đã dần chạm được vào những bãi cọc quân sự do chính quân dân Trần Hưng Đạo cắm vào năm 1288. Ở các đầm bãi Yên Giang, Vạn Muối, sông Rút, họ đã tìm thấy rất nhiều bằng chứng về trận địa Trần Hưng Đạo giăng bẫy thủy quân Ô Mã Nhi. Các cây cọc gỗ lim, táu cứng như sắt gần như còn nguyên vẹn, có chiều dài 2,5-3m, đường kính 0,2-0,25m được cắm xiên dòng thủy triều đã kể lại bí ẩn về nơi mồ chôn quân thù.

Nỗi niềm nhà khảo cổ

Những lần tôi có dịp ngồi với PGS.TS Đỗ Văn Ninh - “cây đại thụ” trong làng khảo cổ học nước nhà, chuyện trò cứ qua lại một chút là ông lại đau đáu nhắc về những công trình chưa thể hoàn thành vì tuổi cao sức yếu của mình. Nay ông đã khuất bóng mấy năm rồi mà tôi vẫn nhớ mãi lời ông tâm sự: “Nước Việt có rất nhiều trận thủy chiến vệ quốc, nhưng oanh liệt nhất vẫn là trận Bạch Đằng năm 1288 của quân dân nhà Trần. Chỉ trong một ngày mà bốn vạn quân Nguyên Mông cùng 600 chiến thuyền bị đánh tan tác bởi đội quân của một dân tộc tưởng chừng bé nhỏ hơn rất nhiều”.

Ông Đỗ Văn Ninh tâm sự thêm lâu nay sử sách hay nhắc đến sự thiện chiến của kỵ binh Nguyên Mông, nhưng thật ra họ cũng có thủy quân rất hùng mạnh. Đặc biệt là sau khi bình định được nhà Tống ở trung nguyên, đại hãn Hốt Tất Liệt đã tính ngay đến chuyện chinh phục các quốc gia cách biển như Cao Ly (Triều Tiên), Nhật Bản và tiến xuống khu vực Nam Á, nên nhanh chóng xây dựng một đội chiến thuyền đông đảo. Mưu đồ này rất thuận lợi nhờ các xưởng đóng thuyền vùng duyên hải Trung Quốc cũng như kinh nghiệm đi biển giao thương lẫn xâm lược của người địa phương vừa bại trận.

Các viên tướng trong cuộc xâm lược nước Việt lần thứ ba này như Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc... đều dày dạn kinh nghiệm thủy chiến. Trong đó tướng tải lương Trương Văn Hổ gốc gác là tên cướp biển vùng Quỳnh Lôi. Nếu không tính yếu tố sức mạnh từ lòng yêu nước, sự mưu trí và hiểm địa trời ban thì đội thủy quân của Trần Hưng Đạo rất khó sánh nổi. Thậm chí ngay cả khi đã đại bại hoàn toàn, tướng sĩ gần như chết sạch, tàu thuyền không chiếc nào thoát được, mà đại hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt (lúc này đã lên ngôi hoàng đế Nguyên Thế Tổ) vẫn cố sức phục thù, xâm lược nước Việt lần thứ tư bằng đường biển là chính. Cả 1.000 chiến thuyền lại được chuẩn bị để cho trận huyết chiến mới. Những vị thủy tướng bại trận như Trương Văn Hổ lại được triệu tập sử dụng. Nhưng cuộc viễn chinh chưa bắt đầu thì Hốt Tất Liệt chết trên giường bệnh. Vua tôi nhà Trần trận này chưa phải động binh đã thắng.

Theo ông Ninh, với quy mô các trận thủy chiến vĩ đại đông đến hàng ngàn chiến thuyền và hàng vạn quân binh ở cả hai chiến tuyến nối tiếp nhau từ thời Ngô Quyền đến Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo ở Bạch Đằng, chắc chắn các loại cổ vật liên quan như tàu thuyền, binh khí, vật dụng phải còn không ít dưới đáy sông biển. Chỉ một câu thơ của Nguyễn Trãi Lớp lớp bờ lau kiếm nát chồng cũng cảm nhận được điều này. Rất tiếc là do hoàn cảnh chiến tranh, rồi điều kiện khó khăn, hạn chế đã làm ngành khảo cổ chưa thể góp phần giải mã trọn vẹn được chiến tích của tiền nhân. “Suốt một đời gắn với ngành sử học và khảo cổ, tôi vẫn nghĩ đây là một món nợ lớn với tổ tiên. Còn rất nhiều bí ẩn phải tiếp tục làm sáng tỏ” - ông Ninh từng tâm sự.

Phát hiện của người dân

Khoảng năm 1953-1954, bí ẩn của bãi cọc Bạch Đằng bắt đầu hé mở khi người dân địa phương ở xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện một số cọc gỗ lộ lên mặt đất ở bãi đầm cách ngã ba sông Chanh và sông Bạch Đằng khoảng 400m về phía đông. Vị trí này cách trung tâm thị trấn Quảng Yên lúc ấy 2km về phía tây. Người dân thấy có cọc gỗ lim còn tốt đào đem về nhà sử dụng. Khoảng 200 cọc gỗ đã được nhổ lên trong 50 hố đất đào. Câu chuyện dần được báo lên trên, Nhà nước bắt đầu quan tâm. Ngày 26-11-1958, Vụ Bảo tồn bảo tàng với những tên tuổi như Hoàng Minh Giám, Đào Duy Anh, Nguyễn Lân... đã đến nơi này ghi nhận thông tin từ người dân địa phương và tiến hành đào khảo sát. Hai nhà sử học và khảo cổ Diệp Đình Hoa, Phan Đại Doãn ghi lại trong báo cáo rằng: “Từ sau đợt khai quật này, chiến thắng Bạch Đằng và nhất là trận địa cọc mới được tìm hiểu một cách đầy đủ và cẩn thận... nhằm tìm hiểu sâu hơn truyền thống dân tộc và khoa học quân sự nước nhà”.

Tuy nhiên, ngay từ đầu nhóm khảo cổ này đã đối mặt với những khó khăn cần giải quyết. Chính sử nước Việt lẫn Nguyên sử cùng thời đều chỉ có vài dòng ngắn gọn lướt qua bãi cọc này mà thiếu hẳn sự chi tiết, cụ thể để người đời sau tìm kiếm. Ngoài ra, hệ thống cửa Bạch Đằng từ trước trận thủy chiến 1288 đã có nhiều dân cư sinh sống với các làng cổ như trại Yên Hưng. Dân sinh vùng này còn trải dài và ngày càng đông đúc đến tận ngày nay. Các cọc của người dân tự cắm để bảo vệ đất đai, bờ đê có thể bị nhầm lẫn với cọc quân sự. Đặc biệt, phân biệt được ba đợt cắm cọc khác nhau của Ngô Quyền, Lê Hoàn và Trần Hưng Đạo cũng là công việc rất khó khăn.

Phan Đại Doãn và Diệp Đình Hoa báo cáo đoàn khảo cổ phải kết hợp nhiều phương pháp từ nghiên cứu sử liệu đến phân tích trực tiếp địa hình, bãi cọc, trầm tích địa chất... để cố gắng tìm đúng bãi cọc của quân dân Trần Hưng Đạo. Ban đầu, đoàn khảo cổ đã sàng lọc được một số bãi cọc ở vùng thượng lưu sông Bạch Đằng có thể không phải từ các trận chiến lịch sử. Đó là hai dải cọc được phát hiện ven sông Giá, một chi lưu của sông Bạch Đằng. Hầu hết cọc đều nhỏ, đường kính chỉ khoảng 6-10cm, thậm chí có cả cọc tre, được cắm san sát nhau ở khoảng cách 4-5cm. Ngoài ra, một số vùng khác cũng có các dải cọc tương tự. Ở chợ Đá Bia, họ còn tìm thấy các hàng cọc chạy dọc ven đê, với nhiều loại cây gỗ có đường kính từ 4-20cm. Một vài ý kiến ban đầu cho rằng đây là những bãi cọc phụ hỗ trợ cho các bãi cọc chính trong trận chiến Bạch Đằng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến sau đó đã nghi ngờ giả thuyết này. Họ cho rằng đó có thể chỉ là các dải cọc kè chân đê đã được gia cố theo thời gian.

Vậy bãi cọc chôn quân thù đang chìm lấp ở đâu?

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5

Theo Quốc Việt (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Giải mã bí ẩn bãi cọc Bạch Đằng Giang (Kỳ 1)

(TTO) - 726 năm trước, nước Đại Việt bé nhỏ đã đánh tan tác 600 chiến thuyền và 40 vạn quân Nguyên Mông trong trận thủy chiến Bạch Đằng. Dòng chảy thời gian hơn 700 năm đã che phủ nhiều bí ẩn quanh trận thủy chiến oanh liệt này. Phóng viên Tuổi Trẻ trở lại nơi này, tìm lại dấu tích của chiến địa lừng lẫy trong lịch sử.

Từ Hà Nội, TS Nguyễn Việt về Quảng Ninh lần theo dấu vết khảo cổ và thư tịch bạc màu thời gian, cùng các cộng sự thực hiện dự án khảo sát đáy sông, biển Vân Đồn, Bạch Đằng để tìm kiếm những gì còn lại từ các trận thủy chiến oanh liệt. Các thợ lặn và chuyên gia khảo cổ từ Hàn Quốc cũng được mời tham gia khảo sát. Họ hi vọng có thể tìm thấy dấu vết đoàn thuyền chiến bại của đội quân Nguyên Mông.

“726 năm là quãng thời gian khá dài, nhưng có lẽ cũng không thể làm tan biến hết được những con thuyền được đóng từ gỗ quý chìm sâu dưới đáy nước” - một chuyên gia khảo cổ nước trầm ngâm tâm sự.

“Cổ họng” chiến bại

Những ngày ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, nơi Bạch Đằng giang hòa vào biển Đông, tôi cố gắng lần tìm lại dấu vết trận thủy chiến oanh liệt của quân dân nhà Trần 726 năm trước.

Dòng chảy thời gian cùng bao thời cuộc thăng trầm đã làm cảnh vật dải sông núi hùng thiêng này đổi thay rất nhiều so với sử xưa ghi chép. Tuy nhiên, điều đặc biệt là nhiều người dân ở đây như “pho sử sống” từ những ký ức tổ tiên mình truyền đời để lại. Không chỉ các nhà nghiên cứu lịch sử, cán bộ bảo tàng địa phương, mà cả cụ già giữ đền, cô hàng nước, anh xe ôm đều có thể dẫn tôi đến được những bãi trận địa năm xưa...

Chiều muộn, cơn mưa dông từ ngoài biển đang vần vũ kéo vào đất liền cùng thời sự ở Hoàng Sa làm trĩu lòng người. Tôi tranh thủ việc đầu tiên là ghé đền Trần Hưng Đạo, để được thắp nén hương trước tượng thờ vị danh tướng. Người địa phương đều tin rằng ông linh thiêng lắm, còn tôi thầm xin ông dẫn đường cho mình trở lại đúng nơi chiến trường vệ quốc năm xưa.

Cụ thủ hương Lê Hữu Lâm, 84 tuổi, trao cho tôi nén hương đỏ lửa rồi trầm tư kể rằng dưới từng tấc đất này đều đẫm dày trầm tích chiến trận. Đền Trần nằm ngay bên bờ sông Bạch Đằng, và con sông lịch sử hùng thiêng đất Quảng Ninh này được các nhánh sông lớn nhỏ hợp thành trước khi đổ ra biển Đông.

Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, đến phần Quảng Yên đã mô tả rất tỉ mỉ về sông Bạch Đằng: “Bạch Đằng giang nằm cách huyện Yên Hưng 5 dặm về phía tây. Nguồn từ sông Lục Đầu, tỉnh Hải Dương, chảy qua địa giới huyện Thủy Đường (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay - PV), chia làm hai chi: một chi do sông Mỹ Giang chảy về phía đông 17 dặm, qua núi Châu Cốc (Hang Sơn) chảy về phía đông bắc 25 dặm hợp dòng đổ về xã Đoan Lễ làm thành sông Bạch Đằng (phía nam là địa giới huyện Thủy Đường, phía bắc là địa giới huyện Yên Hưng). Bạch Đằng chảy về hướng nam đến phía đông bến đò xã Yên Hưng chia ra một chi thông với sông Tranh, còn dòng chính thì chảy sang phía nam 29 dặm đổ ra cửa biển Bạch Đằng. Năm Minh Mạng thứ 17 đúc Cửu Đỉnh khắc vào Nghị Đỉnh. Năm Tự Đức thứ ba liệt vào hàng sông lớn, ghi vào tự điển thờ”.

Sách Nam Phong trong phần khảo về địa dư và lịch sử tỉnh Quảng Yên cũng ca ngợi dòng sông lịch sử này: “Bạch Đằng là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), phía đông ngạn thuộc xã Yên Hưng, phía tây ngạn thuộc về xã Đoan Lễ, huyện Thủy Đường. Thủy trào sâu 2 trượng 5 thước, thủy tịch sâu 1 trượng 7 thước. Giữa sông có một bãi ám sa, bến đò ở đó mênh mông rất rộng”.

Ngoài tên Bạch Đằng giang đã lưu danh chính sử, người địa phương còn truyền đời gọi dòng sông này là sông Rừng và Vân Cừ. Hai cái tên phát nguồn từ chính đặc điểm địa lý tự nhiên thuở ấy với các cánh rừng bạt ngàn che phủ đến tận bờ bãi sông xưa. Đến giờ tuy rừng xưa đã mất, nhưng cái tên quen gọi đó vẫn còn gắn bó với nhiều địa danh đất này như chợ Rừng, phà Rừng, làng Rừng, giếng Rừng...

Các đền miếu xưa ở đây vẫn còn nguyên vẹn các cột, kèo gỗ rừng quý như lim, táu. Và đặc biệt, bãi cọc hiểm yếu làm nên chiến thắng Bạch Đằng được lấy từ chính cánh rừng ngay bên bờ sông này.

Còn tên Vân Cừ của Bạch Đằng giang cũng là một cái tên cổ ngợi ca vẻ đẹp lẫn địa thế hiểm yếu có giá trị vệ quốc. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí đã thốt lên: “Sông Vân Cừ rộng 2 dặm 69 trượng, sâu 5 thước, trên có núi non cao vót, nước suối giao lưu, sóng tung lên tận chân trời, thật là nơi hiểm yếu. Nước ta khống chế kẻ Bắc, sông này là chỗ cổ họng”. Từ Ngô Quyền đến vua tôi nhà Trần đều nhìn thấy rõ địa thế hiểm yếu này để quyết định giăng những trận thủy chiến quyết định với kẻ thù xâm lược.

Con đường xâm lược của quân phương Bắc

Trên con đường về cửa sông Bạch Đằng, TS Nguyễn Việt tâm sự từ lâu ông đã không chỉ khảo sát bãi chiến địa này, mà còn cố gắng lần dấu thủy lộ xâm lược của quân phương Bắc. Một trọng tâm trong công trình khảo sát đáy biển Vân Đồn mà ông và nhóm chuyên gia Hàn Quốc đang thực hiện chính là tìm lại nơi đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ bị đánh tan tác.

Thư tịch cổ ghi rằng mùa đông năm 1287, toàn bộ quân lương Nguyên Mông do Trương Văn Hổ cầm quân áp tải đã bị vị thủy tướng nước Việt Trần Khánh Dư đánh chìm tại vùng biển này. Một trận chiến bất ngờ, nhanh chóng, báo trước chiến bại ê chề lần thứ ba của cả đoàn quân thủy bộ xâm lược Nguyên Mông.

Theo TS Nguyễn Việt, công trình khảo cổ nước này thành công sẽ góp phần làm rõ thêm con đường xâm lược của quân phương Bắc. Các thư tịch, sử liệu cổ của nước Việt và Trung Quốc đều nhắc đi nhắc lại từ xa xưa đường biển dọc theo Quảng Ninh, qua Vân Đồn vào hệ thống cửa sông Bạch Đằng, tiến sâu vô nội địa nước Việt đã được các đoàn quân phương Bắc nhiều lần sử dụng để xâm lược quốc gia phía Nam.

Từ năm 43 sau Công nguyên, cánh thủy quân Đoàn Chí của Mã Viện đã theo thủy lộ này vào hội với binh mã nhà Hán ở vùng Lục Đầu để giao chiến với Hai Bà Trưng.

Đến năm 546, thủy quân nhà Lương lại vào cửa ngõ Bạch Đằng đi lên sông Luộc, đánh nước Vạn Xuân ở miền Chu Diên. Sang các năm 938, 981, 1288, quân dân nước Việt do Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo cũng lần lượt phải vệ quốc trước các đội quân xâm lược Nam Hán, Tống, Nguyên Mông ở cửa ngõ phên giậu này của Tổ quốc.

Từ phương Bắc, các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều nghiên cứu kỹ lưỡng thủy lộ an toàn này xuất phát từ duyên hải Quảng Đông xuyên qua vùng vịnh Quảng Ninh, vào hệ thống cửa sông Bạch Đằng của nước Việt.

Nhiều tác giả Trung Hoa còn đặt tên cho đường biển xâm lược này là Đông Kênh. Nhìn trên bản đồ chiến lược, quân phương Bắc có thể theo thủy lộ này tiến rất nhanh vào kinh thành Thăng Long mà không phải vượt qua địa hình rừng thiêng nước độc, đối đầu với nhiều trận địa phòng thủ nếu đi đường bộ.

Đặc biệt, tàu thuyền qua biển Quảng Ninh cũng tránh được mối nguy bão tố với nhiều hòn đảo lớn nhỏ che chắn. Ngoài ra, từ con đường này, thủy quân còn nhanh chóng hội với sức mạnh kỵ binh ngay khi vừa vào đến đất liền. Tuy nhiên, những người ái quốc cũng nhìn thấy rõ địa thế hiểm yếu của thủy lộ này để đánh bại các đoàn quân xâm lược.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5

Theo Quốc Việt (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Khu di tích K9 - Đá Chông

(TTO) - Bình yên và tĩnh tại với không gian mang đậm màu sắc hoài cổ cùng những câu chuyện lịch sử ở khu di tích K9 - Đá Chông (xã Minh Quang, huyện Ba Vì), cách trung tâm Hà Nội chừng 60km. Đồi Đá Chông nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc quần thể núi Ba Vì có độ cao 150 m so với mực nước biển, địa thế giáp gianh ba tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ và Hà Nội.

Là một điểm tham quan, du lịch nhưng K9 từ bao năm nay vẫn mang trong mình vẻ bình yên, trang nghiêm vốn có. Con đường nhựa chạy thẳng tắp qua khu di tích hầu như vắng bóng xe cộ qua lại. Nơi đó chỉ có những chiếc lá vàng bay theo gió cùng tiếng chim hót líu lo. Đứng ở đây, chúng ta có thể nhìn thấy đỉnh núi Ba Vì, nơi có đền Thượng thờ Đức thánh Tản Viên Sơn Tinh rất rõ vào ngày trời trong.

< Toàn bộ sân bao quanh nhà và các lối đi đều được rải sỏi để phát hiện tiếng bước chân người hoặc thú rừng.

Ngay sát khu di tích là dòng sông Đà hiền hòa chảy. Dòng sông Đà bắt nguồn từ Lai Châu chảy về đây, bất ngờ đổi hướng chảy lên phía Bắc. Khi sông Đà tới đoạn Bạch Hạc đã hợp lưu với sông Hồng, sông Thao tạo thành thủy lưu mênh mông về chầu đất tổ vua Hùng.

< Những phiến đá chĩa lên như những mũi chông là ý tưởng đặt tên cho địa danh này, đồi Đá Chông.

Theo truyền thuyết, khu vực này xưa kia diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.

< Lối xuống hầm trú ẩn.

Năm 1957, Bác Hồ đã dừng chân ở đây trong một lần đi kiểm tra diễn tập của bộ đội. Người  từng sống và làm việc ở đây suốt chín năm (1960-1969). Nơi đây có đủ các khu nhà làm việc của Chủ tịch nước, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Chính phủ.

Khu di tích K9 trong thời gian dài được bảo mật nghiêm ngặt, hầu như không cho người dân và du khách vào tham quan. Nhưng vài năm gần đây, K9 đã mở cửa đón các đoàn du khách từ khắp mọi miền Tổ quốc về dâng hương và ngắm cảnh. Ở vùng đất Ba Vì có đến cả chục địa danh du lịch nổi tiếng như Ao Vua, Đầm Long, Khoang Xanh, Suối Tiên, núi Ba Vì... nhưng rất nhiều bạn trẻ thường bỏ quên K9 trong tour hành trình của mình.

< Đoàn xe vận chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay khu di tích lịch sử K9 - Đá Chông được quản lý và bảo vệ bởi Bộ tư lệnh Lăng. 

Với những ai đam mê du lịch sinh thái thì không thể bỏ qua K9 trong hành trình khám phá vùng rừng núi Ba Vì. Bạn Phương Nhung, sinh viên đang học ở Hà Nội mà chúng tôi gặp ở K9, cho biết: “Mình không nghĩ một khu di tích lịch sử lại có những cảnh đẹp và nhiều điều thú vị như vậy. Sau gần một ngày ở đây, mình đã có suy nghĩ khác trước hoàn toàn”.

Theo H.DƯƠNG - NG.HƯỜNG (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

Trà Kiệu: kinh đô Chăm ngày xưa

Di tích Trà Kiệu ở làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45 km về phía tây nam, di tích nằm trên một dải đồng bằng, là cửa của một thung lũng rộng hình tam giác, các ngọn núi: Chóp Xôi, Núi Chúa, Núi Ðất... nối liền nhau tạo nên hai bức tường thành tự nhiên bảo vệ hai cạnh phía tây bắc và tây nam của thung lũng.

Trà Kiệu được coi là kinh đô Sinhapura hay “Kinh thành Sư Tử” của Vương quốc Champa từ khoảng thế kỉ 6 đến thế kỉ 7. Simhapura là kinh đô của tiểu quốc Avamarati một trong 5 tiểu quốc của vương quốc Champa. Theo văn bia cho biết, người đặt đô đầu tiên ở đây là vua thứ 9 Vikrantavacman II vào khoảng 686 – 731, thuộc dòng Gangaraja trị vì từ thế kỷ 3 đến giữa thế kỷ 8.

Sau chính biến năm 1470 giữa vương quốc Champa và Đại Việt, vua Lê Thánh Tông đã đặt mốc biên giới tại Thạch Bi sơn, và cùng với đó là làn sóng di cư của những người Việt vào Nam theo đà nam tiến. Vào năm 1623, Trà Kiệu đã được một số người tình nguyện di dân ở các vùng chung quanh chọn để tới khai hoang lập ấp.

 Theo nhiều nhà nghiên cứu thì tên Trà Kiệu được xuất phát từ cách gọi Chùm Chà chỉ những người Chiêm Thành. Chữ Chà phía sau đọc trại thành Trà còn chữ Kiệu có thể hiểu rằng người ở nơi xa đến, ý chỉ những người đàng Ngoài vào lập nghiệp tại vùng đất này.

Vào năm 1927-1928, dưới sự chỉ đạo của J.Y.Claeys, Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã tiến hành cuộc khai quật ở Trà Kiệu. Theo miêu tả của Claeys, chu vi của toà thành vào khoảng 4000m. Ông còn tìm thấy một dãy những bức tường gạch được gọi là hoàng thành. Ông còn tìm thấy nhiều đền, tháp, các tác phẩm điêu khắc, văn bia có giá trị lớn ở 2 ngôi làng: Chiêm Sơn Đông và Chiêm Sơn Tây nằm kế cận kinh thành Trà Kiệu xưa.

Sau cuộc khai quật một phần kinh đô cổ Trà Kiệu của Claeys vào các năm 1927 – 1928, nhưng tầng văn hóa dưới lòng đất Trà Kiệu lại ngủ yên suốt hơn nửa thế kỷ. Từ thập niên 90 đến nay những nhát cuốc của các nhà khảo cổ đã rộn ràng đánh thức những di chỉ văn hóa ẩn chìm dưới lòng đất. Ngoài các di chỉ văn hóa Chăm, vùng đế đô xưa một thời vang bóng này còn chứa các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh đầy lôi cuốn với những ai muốn soi rọi lại một phần quá khứ của hàng nghìn năm trước.

Vào những năm 1980, có nhiều những hiện vật nhỏ làm bằng vàng đã được khai quật. Chúng là những trang sức có hình mặt trăng, mặt trời, các vì sao, còn có cả những bức tượng thần rỗng ruột, tượng động vật và những cuốn sách thánh dày tạo bởi vàng lá dày 1cm khắc chữ Phạn và những miếng vàng hình tròn với những mẫu tự tiếng Ả Rập. Tổng sô vàng được tìm thấy lên đến vài ký. Điều này cho thấy sự giàu có, trù phú của thành Sinhapura trong thời kì phát triển thịnh vượng nhất từ thế kỉ thứ 4 đến thế kỷ thứ 10.

Kinh đô Trà Kiệu là một tổng thể không thể thiếu được trong nền văn minh , văn hóa Á Đông nhất là văn minh Champa là : Kinh đô – Lăng Miếu , Thánh địa , Đền đài để thờ cúng các tiên vương, chư thần…Theo nghiên cứu của GS.TS Trần Quốc Tý, nếu du khách nhìn từ Cù Lao Chàm- nhà thờ Trà Kiệu – và thánh địa Mỹ Sơn là nằm trên một đường thẳng theo đường chim bay. Đây là một phát hiện vô cùng lý thú.

Cho đến nay, giới khảo cổ và sử học đã tìm thấy nhiều di tích đền, tượng, bệ thờ, tường thành, đồ gốm, bia kí và nhiều bức phù điêu tại Trà Kiệu, trong đó nổi tiếng nhất là bức chạm “Vũ nữ Trà Kiệu”. Tất cả những hiện vật này  một phần được mang về Bảo tàng điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng, số còn lại du khách có thể chiêm ngưỡng tại một cửa hàng đồ lưu niệm đặt trong khuôn viên Nhà thờ Trà Kiệu như  ghi nhận những phồn thịnh và lưu giữ những hình ảnh đẹp kì lạ về dấu tích điêu khắc Chăm một thời tại Trà Kiệu.

Ngày nay tại Trà Kiệu, một nhà thờ thiên chúa giáo đã được xây dựng trên ngọn đồi Bửu Châu. Nó được xây dựng trên nền của một tháp Chăm. Đứng ở đây chúng ta sẽ có được một cái nhìn toàn cảnh thung lũng Trà Kiệu với những cánh đồng màu mỡ và một bức tường thành dài hơn 1000 m, một di tích bên trong cung điện đã được miêu tả như trong Thủy Kinh Chú của Trung Quốc.

Từ đỉnh đồi chúng ta có thể thấy đỉnh núi Mỹ Sơn ở phía Tây  và Cù Lao Chàm về phía Đông . Từ đây chúng còn thấy được địa hình thuận lợi và những phong cảnh đẹp mà người Chăm đã chọn để xây dựng thủ đô của mình.

Trà Kiệu ngày nay lại được chọn là Trung Tâm Thánh Mẫu. Hằng năm, cứ vào ngày 31 tháng năm, lại có hàng vạn người, cả lương lẫn giáo, từ các tỉnh miền Trung tấp nập kéo nhau về đây cầu nguyện và xin ơn Đức Mẹ.

Xem thêm:
- Nhà thờ Núi Trà Kiệu nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45km về phía tây nam, cách thị trấn Nam Phước 9 km, cách Thánh Địa Mỹ Sơn 10 km về phía Tây. Từ ngã ba Nam Phước (Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên) đi theo đường 537 khoảng 9km sẽ đến di tích Kinh đô Trà Kiệu nay là Nhà thờ Núi Trà Kiệu.

Theo CTTĐT Quảng Nam
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Dừng chân ở vĩ tuyến 17

(iHay) - Dọc đường thiên lý Bắc – Nam, không phải du khách nào cũng dành chút thời gian hiếm hoi để ghé thăm Khu di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (Quảng Trị). Cách đây gần 40 năm, dòng sông Bến Hải trùng với vĩ tuyến 17 trên bản đồ từng là đường giới tuyến phân chia hai miền Nam – Bắc.

Những ngày này, đi dọc Quốc lộ 1A ngang qua huyện Vĩnh Linh, có thể nhìn thấy cây cầu Hiền Lương huyền thoại rực rỡ hai màu xanh vàng, cờ Tổ quốc đỏ thắm tung bay trong gió. Cách cây cầu không xa là kỳ đài, nhà liên hiệp và khu trưng bày vĩ tuyến 17 – khát vọng thống nhất. Chỉ cần một lần ghé thăm, nhìn thấy, nghe kể, bao trang sử đau thương nhưng hào hùng của dân tộc bất chợt ùa về qua dòng tâm trí của lữ khách phương xa.

< Lô cốt theo dõi đặt ở bờ nam.

Cuối tháng 3 năm nay, cầu Hiền Lương được sơn lên hai màu, nửa xanh nửa vàng, nhằm gợi nhớ về thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai miền, hai chế độ. Trải qua bao biến thiên dâu bể của thời gian, những thanh gỗ làm bề mặt cầu đã in hằn dấu ấn của mưa nắng, bão lũ, thiên tai miền Trung đầy khắc nghiệt. Đứng trên cầu, gió lộng từ dưới dòng Bến Hải thổi vào người mát rượi.


< Dàn loa bên bờ bắc.

Phía xa xa là những rặng tre làng cao vút đu đưa, con đường làng ngoằn ngèo, những bãi bồi, cánh đồng lúa trải màu xanh thanh bình, yên ả. Nhưng vẫn còn đó những mái nhà nghèo đơn sơ, im lìm bên bờ sông nước như vốn dĩ mấy chục năm lịch sử đã trôi qua.

Đứng ở bờ nam giới tuyến nhìn sang, cờ Tổ quốc ở kỳ đài phấp phới trong gió nhẹ, dàn loa phát thanh cũ kỹ vẫn sừng sững hướng qua sông. Đứng ở bờ bắc nhìn qua, những chòi canh đen ngòm như ẩn chứa nhiều họng súng chết chóc và con đường Quốc lộ 1 chạy thẳng một mạch vào Nam.

Trước khu trưng bày vĩ tuyến 17 là hai chiếc loa lớn, từng được nhân dân ở bờ bắc giới tuyến dùng nó để phát thanh tuyên truyền, kêu gọi quần chúng đấu tranh cách mạng, công tác địch vận.

Tham quan khu trưng bày, du khách trong và ngoài nước đều bàng hoàng tột cùng trước sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, mà Vĩnh Linh là tuyến lửa hứng chịu vô vàn bom đạn của quân thù.

Một nữ du khách người Mỹ dẫn theo con nhỏ đứng trước những bức ảnh chụp cảnh các em bé Việt Nam bị bom đạn làm cháy bỏng da thịt. Bà vội đưa tay gạt nhanh dòng nước mắt đang chảy tràn rồi nói : “Chiến tranh mang lại sự tàn khốc không thể tưởng tượng nổi, chúng ta đều căm ghét chiến tranh và không ai muốn chúng gây hại điều gì với con nhỏ của mình”.

< Bức tượng người mẹ vá cờ.

Bom đạn, cái chết, sự chiến đấu kiên cường của nhân dân, cảnh đẹp làng quê đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, nỗi đau chia cắt đất nước, khát vọng hòa bình, thống nhất lãnh thổ. Tất cả đều biểu hiện sinh động qua bức ảnh, hiện vật, kỷ vật, bức tượng đá hay thậm chí chỉ là một chiếc khăn quàng của bà má miền Nam.

Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải ghi lại trang sử dân tộc nhiều đau thương nay đã khép lại để cùng nhau hướng tới tương lai rực rỡ như hai màu vàng xanh của cây cầu huyền thoại.

Theo Thanh Tuấn (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều

Đông Triều hay còn được gọi là triều đình phía Đông, trước kia được gọi là An Sinh, chính là quê gốc của nhà Trần trước khi dời đến Long Hưng – Thái Bình và Thiên Trường – Nam Định.

< Nơi đây có Ngoạ Vân am cổ kính là nơi Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông hoá Phật.

Nhà Trần là một trong những triều đại vang danh bậc nhất trong lịch sử dựng nước, giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta. Các di tích lịch sử về nhà Trần có ở khá nhiều nơi, nhưng không ở đâu phong phú, đặc biệt và còn nhiều dấu tích dưới lòng đất như ở Đông Triều.

< Hay đến thăm Phật Hoàng Tháp, một trong 7 địa điểm lưu giữ xá lị của Ngài sau khi hoả thiêu.

Nằm ở phía Nam dãy núi Đông Triều thuộc địa bàn 4 xã An Sinh, Bình Khê, Thuỷ An và Tràng An, Khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần là quần thể di tích lăng mộ, đền, chùa, am tháp với 14 di tích trải rộng.

Đây là vùng thánh địa linh thiêng mang đậm yếu tố lịch sử, văn hoá đặc sắc, nơi quê gốc nhà Trần. Đến với khu di tích đặc biệt này, bạn có thể tham quan chùa Ngoạ Vân toạ lạc trên một địa thế đẹp trên cả phương diện cảnh quan và phương diện phong thuỷ, có tả thanh long, hữu bạch hổ, sau có chẩm, trước có án, xa hơn là trường lưu thuỷ.

< Cùng với chùa Ngoạ Vân, một địa điểm nữa liên quan trực tiếp đến sự phát triển của tông phái Trúc Lâm, đó là Chùa Hồ Thiên trên núi Phật Sơn, nơi Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông đăng đàn, thuyết pháp. Trên chùa có ngọn tháp đá 7 tầng mà đến nay kiến trúc của ngôi tháp vẫn là bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu.

< Một trong những điểm nhấn của khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần đó là Đền Sinh - nơi thờ 8 vua Trần đặt lăng, mộ tại xã An Sinh.

< Đền và lăng, mộ 8 vua Trần là trung tâm có tính chất văn hoá tiêu biểu của nước Đại Việt thời Trần. Lăng mộ vua Trần Anh Tông, vua thứ 4 đời Trần là lăng vua đầu tiên xây năm 1320 trên quê gốc Đông Triều.

< Hay vãn cảnh chùa Quỳnh Lâm được xây dựng từ thời Lý, chùa được xây dựng ở thế đất “rồng chầu, hổ phục”. Thế kỷ XIV, chùa Quỳnh Lâm là nơi đào tạo tăng tài lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm thế kỷ XIV. Vườn tháp chùa Quỳnh Lâm và tháp đá mộ các thiền sư có kiến trúc độc đáo, một di sản văn hoá tiêu biểu không chỉ của tỉnh Quảng Ninh mà là của Việt Nam.

< Trong những năm qua, khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Để bảo tồn và phát huy, huyện Đông Triều đã có những nỗ lực trong việc tuyên truyền, quảng bá giá trị đặc biệt, độc đáo của khu di tích. Đây sẽ là nơi du lịch tâm linh, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, góp phần tuyên truyền, cổ vũ động viên, giáo dục lòng yêu nước, tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc.

Theo Xuân Quảng - Đỗ Phương (báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

Tường thành cổ dưới biển

(TNO) - Đầm Thị Nại (tỉnh Bình Định) là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, quyết định số phận của các vương triều như: Chămpa, Tây Sơn, triều Nguyễn...

Vùng biển gần bờ xã Nhơn Hải (TP.Quy Nhơn) tồn tại một bờ thành chìm trong lòng biển, chỉ nhìn thấy khi thủy triều xuống. Bờ thành này nối liền vách đá thôn Hải Nam ra đến đảo Hòn Khô của thôn Hải Đông. Bề mặt thành phẳng, rộng hơn 10 m, độ cao của thành chưa xác định được. Những ngư dân làm nghề thợ lặn khẳng định bờ thành này không xây bằng đá hoặc gạch mà bằng hồ vữa đặc nguyên khối.

Thị Nại có âm gốc tiếng Chămpa gọi đầy đủ là Thi Lị Bi Nại, tên phiên âm chữ Cri-Banoi là tên hải cảng của Vương quốc Chămpa. Thời Chămpa và thời Tây Sơn, Thị Nại có vai trò rất quan trọng, vừa là quân cảng và vừa là thương cảng rất sầm uất.

Thôn Hải Giang (cách bờ thành nói trên hơn 5 km) cũng có bờ thành chìm dưới lòng biển, thủy triều xuống sẽ nhìn thấy đoạn dài hơn 3 km ở gần bờ, người dân địa phương gọi là Rạng Cầu. Hai đoạn bờ thành này có kết cấu giống nhau, nên nhiều người cho rằng đó là một tường thành kéo dài. Tuy nhiên, không ai tính chính xác tường thành này dài đến đâu và được xây dựng từ thời nào.

Vùng núi thôn Hải Giang lại có một lũy đá kéo dài, bao quanh đỉnh núi Tam Tòa (thuộc hệ thống núi Phương Mai) của khu vực Hải Minh (P.Hải Cảng, TP.Quy Nhơn). Lũy được xây dựng bằng cách xếp chồng những viên đá núi có nhiều kích cỡ khác nhau. Ở những nơi còn nguyên vẹn, chiều cao của lũy đá khoảng từ 1 - 1,5 m, đáy rộng 2 m, bề mặt rộng 1,2 m.

< Bờ thành ở vùng biển Nhơn Hải được nhìn thấy khi thủy triều xuống.

Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, bờ thành Nhơn Hải và lũy đá trên núi Tam Tòa là những công trình phòng thủ khác nhau. Theo thư tịch cổ để lại thì người Chămpa xây dựng 4 thành lớn tại Bình Định gồm: Thị Nại (H.Tuy Phước), Đồ Bàn (TX.An Nhơn), Chas (TX.An Nhơn), Uất Trì (H.Tây Sơn) và một số thành nhỏ khác. Nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện có tư liệu nào nhắc đến bờ thành được xây dựng ở vùng biển Nhơn Hải. “Bờ thành ở Nhơn Hải là một di tích rất lạ, tường thành nằm dưới nước hàng trăm năm qua vẫn còn nguyên vẹn chứng tỏ kỹ thuật xây dựng của người Chămpa rất độc đáo”, TS Hòa nói.

< Ông Nguyễn Minh Trung và khẩu thần công được vớt lên đầu tiên. Súng được đúc bằng đồng, dài 2,7m, đường kính nòng 0,25m, đường kính thân 0,35m.

Theo TS Đinh Bá Hòa, Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ có ghi chép vào tháng 8 năm Canh Tý (1840), vua Minh Mạng cho xây dựng pháo  đài Hổ Ky ở cửa biển Thị Nại, chính quyền địa phương đã huy động trên 500 dân phu tham gia xây dựng. Sau lưng pháo đài Hổ Ky, trên đỉnh núi Phương Mai là một hệ thống thành lũy yểm trợ, được xây dựng tại 2 nơi riêng biệt là gò Vũng Tàu và gò Kinh Để. Phòng tuyến gò Kinh Để có nhiệm vụ ngăn không cho quân địch tiến từ sườn phía đông để tấn công pháo đài Hổ Ky vào phía bên trong cửa Thị Nại. Còn phòng tuyến gò Vũng Tàu để ngăn quân bộ tấn công mặt tây của pháo đài Hổ Ky và chiếm cửa biển Thị Nại.

Những trận thủy chiến nổi tiếng

Đầm Thị Nại là cửa ngõ ra vào Bình Định bằng đường thủy nên triều đại nào cũng xây dựng hệ thống phòng thủ để trấn giữ. Thời Chămpa có xây thành Thị Nại, tháp Bình Lâm. Thời Tây Sơn, thủy quân cũng đóng bản doanh tại đầm Thị Nại và núi Tam Tòa. Thành Thị Nại đóng vai trò là tiền đồn bảo vệ cho kinh đô Đồ Bàn của Chămpa nên các cuộc tấn công bằng đường thủy thường nhắm vào thành này.

< Khẩu thần công sau khi đục bỏ lớp hàu ốc bám bên ngoài.

Trận thủy chiến đầu tiên tại thành Thị Nại được sử sách ghi lại là trận chiến chống quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy xâm lược Chămpa vào cuối năm 1282. Thủy binh do Toa Đô chỉ huy tiến đánh thành Thị Nại quá mạnh, quân Chămpa phải rút lui.

Khoảng thời gian từ năm 1792 - 1801, thủy quân của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn đã có 5 lần giao chiến tại đầm Thị Nại. Các trận năm 1792, 1793, thủy quân Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại nhưng đều phải lui binh. Lần thứ 3, năm 1799, đại quân Nguyễn Ánh vượt qua được cửa Thị Nại, đánh chiếm luôn thành Hoàng Đế (cũng là nơi xây dựng thành Đồ Bàn cũ). Năm sau, quân Tây Sơn từ kinh thành Phú Xuân (Huế) do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy lại được Thị Nại rồi giao cho Võ Văn Dũng trấn thủ, sau đó kéo quân vây đánh thành Hoàng Đế.

< Súng thần công của quân Tây Sơn được tìm thấy tại căn cứ thủy binh Tây Sơn ở cảng Thị Nại (Quy Nhơn), hiện được trưng bày trong Bảo tàng Tây Sơn (Bình Định).

Năm 1801, Nguyễn Ánh cho đại binh ra đánh Thị Nại nhằm giải vây cho thành Hoàng Đế. Đây là trận đại chiến lớn nhất từ trước đến nay tại đầm Thị Nại. Trong sách Nhân vật Bình Định, tác giả Đặng Quý Địch dẫn lại tư liệu của ông Barizy (một người ngoại quốc có mặt trong đoàn quân của Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại) khẳng định quân Tây Sơn tại cửa Thị Nại gồm có 557 tàu chiến lớn nhỏ, 1.827 đại bác các cỡ và 53.250 thủy quân. Thủy quân của nhà Nguyễn có 91 thuyền chiến, 91 đại bác, 10.400 lính và lực lượng rất đông quân bộ ở Phú Yên tấn công ra.

< Một phế tích của đền thờ dưới chân núi.

Theo ông Barizy, quân hai bên đánh nhau rất dữ dội vào đêm rằm tháng giêng năm Tân Dậu (1801). Quân Nguyễn tập kích rất bất ngờ, đốt rất nhiều thuyền chiến của quân Tây Sơn.

Các thuyền chiến và pháo hạm hai bên cầm cự đến chiều ngày 16 tháng giêng thì quân Tây Sơn bị vỡ trận, Võ Văn Dũng dẫn thủy quân rút lui. Trận này, 4.000 quân của Nguyễn Ánh bị tử thương, thuyền quân Tây Sơn bị đốt gần hết.

“Lũy đá cổ trên núi Tam Tòa đã được nhắc đến trong sử sách triều Nguyễn nhưng có thể đã có từ các triều đại trước và nhà Nguyễn cho xây dựng lại. Cuối thế kỷ 18, quân Tây Sơn đã thiết lập đồn, đặt đại bác ở núi Tam Tòa, khống chế cửa biển Thị Nại. Ngày nay, người dân và các cơ quan chức năng đã trục vớt 14 khẩu súng thần công tại đầm Thị Nại là những chứng tích còn lại của trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân nhà Nguyễn. Chắc chắn trong khu vực đầm Thị Nại còn rất nhiều dấu tích liên quan đến những trận chiến này nên cần phải được nghiên cứu thêm”, TS Đinh Bá Hòa nói.

Theo Hoàng Trọng (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!