Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Mỹ Thanh, tên gọi của một thời.

(BST) - Không biết có phải do “bệnh” nghề nghiệp hay không, cứ mỗi lần đi đến một địa phương nào đó là tôi hay có thói quen tìm hiểu trước vùng đất xung quanh một số mặt như sản vật, địa danh, thắng cảnh nếu có.

< Bãi biển Hồ Bể.

Đôi khi ngẫm lại cảm thấy mình… “quan liêu”. Bởi cả chục năm làm công tác Đảng và mấy năm liền làm phóng viên nhưng tôi chưa hề đặt chân đến vùng đất này. Nhưng cũng may, những tư liệu đối với Vĩnh Hải - Mỹ Thanh - Xâm Pha và vài địa phương lân cận tôi cũng “tích góp” được ít nhiều.

Theo huyền sử, chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu đã nhiều lần nghỉ lại ở vùng đất này và đóng quân ở khu vực Cồn Nóc, Xâm Pha (thuộc xã Lạc Hoà hiện nay). Ngày trước ở đây còn di tích một nền đồn lũy bằng đất, giếng nước.

Vào những năm 90 của thế kỷ 20, một người dân nơi đây trong khi đào giếng đã lượm được cả một vương miện mà người dân ở đây tin rằng là của “công chúa Mỹ Thanh”, một người con của Nguyễn Ánh đã bị bệnh chết ở đây và thi thể cũng được quàn ở khu vực này (tên xưa là làng Tân Khánh).

< Đường đê Mỹ Thanh.

Khi quân Tây Sơn truy kích đến đây, chúa Nguyễn Ánh buộc phải tiếp tục bôn tẩu thì mộ của công chúa Mỹ Thanh được giao cho những người có uy tín tại địa phương chăm sóc quanh năm hương khói. Cám cảnh vị công nương đã yểu mệnh trên con đường tẩu quốc, người dân địa phương đã thành kính lấy tên của Công chúa đặt tên cho cửa sông và khúc sông Cổ Cò đoạn chảy qua đây: sông Mỹ Thanh và cửa biển Mỹ Thanh.

Ngày nay, nếu đứng ở phía xóm lưới Mỏ Ó, nhìn sang khu vực Xâm Pha vẫn thấy một ngôi cổ miếu (tương truyền là miếu thờ công chúa Mỹ Thanh- còn gọi là miếu Hoàng Cô) và một xóm lưới khá sung túc với nghề đóng đáy, đi ghe cào. Ở khu vực cát giồng phía trong, từ lâu tập trung đông đảo người Hoa rất giỏi về nghề làm rẫy với sản phẩm chủ lực là hành tím, các loại rau, đậu...

Gần cửa Mỹ Thanh, còn có khu du lịch Hồ Bể. Đó là một vũng (hồ) nhỏ lùi vào phía trong đất liền nằm gần cửa Mỹ Thanh. Vũng này được tạo thành chủ yếu là cát vàng bồi và những đụn cát cứ thay đổi thường xuyên theo mùa gió và sóng biển. Vào mùa gió nồm nam, những vành đai cát vươn ra phía biển và có xu hướng đóng lại khi càng ra phía ngoài. Điều này được giải thích là do nguồn nước từ sông Hậu đổ xuống mang theo phù sa bồi đắp và sóng biển chạy dọc từ hướng bãi Trà Sết lên tạo thành.

Đến mùa chướng, lúc này sóng lớn đập vào chủ yếu là từ hướng bắc xuống, cộng với nước triều cường lại lấy đi (đập bể, làm vỡ ra) những vành hồ bên ngoài vừa được tạo lập trước đó trong mùa nồm nam. Mặt vũng lại mở rộng như trước. Có lẽ đây chính là điều đã làm nên địa danh “Hồ Bể”. Trong những năm 90 của thế kỷ 20, khi muốn ra được Hồ Bể phải vượt qua những “nổng cát” lớn mới ra được bãi biển. Phía trong những giồng cát này, người Hoa, người Khmer trồng cây thuốc cá là chủ yếu.

< Cầu Mỹ Thanh 2.

Dọc theo tuyến lộ, chúng tôi vẫn còn thấy thấp thoáng những đám dây thuốc cá với màu lá xanh um. Chú Lý Phết- một lão nông cho biết: Vài năm trước đây, nhu cầu sử dụng rễ thuốc cá rất cao nên lợi nhuận khá hấp dẫn so với các loại hoa màu khác. Nhất là những lúc nghịch mùa, khan hiếm, giá có lúc tăng lên 30.000đ/kg, tiền lời sẽ gấp đôi. Nhưng, kể từ khi phong trào nuôi tôm sú giảm xuống và các loại thuốc công nghiệp dùng cho nuôi tôm xuất hiện ngày càng nhiều đã làm cho thuốc cá bị giảm giá. Tuy vậy, bà con vẫn tiếp tục trồng vì dây thuốc cá dễ chăm sóc, không bị sâu bệnh, vốn đầu tư ít nên người trồng rất an tâm.

Dọc theo vùng này là những cánh rừng đước, mắm, chà là làm thành một vành đai phòng hộ cho những xóm làng bên trong mổi khi có triều cường. Tuy nhiên, vì nằm trực diện hướng ra cửa Mỹ Thanh nên đến mùa chướng, sóng biển từ cửa Mỹ Thanh đập trực diện vào đây nên đất lở hàng năm khá nhiều.

Có nhiều vị cao niên từng sinh sống tại vùng Xâm Pha đã giải tích về nguồn gốc Xâm Pha: Đó là kiểu phát âm của từ chữ “Sóng Phá” (?). Vậy Xâm Pha nghĩa là Sóng Phá. Âu cũng là một cách giải thích cho một địa danh, còn chính xác cở nào thì đành phải “hạ hồi phân giải” vậy.

Mỹ Thanh- làn gió mát của tương lai.

Đứng trên cầu Mỹ Thanh 2 trong cơn nắng gay gắt nhưng từng luồng gió biển thổi lồng lộng như đánh bạt đi nhiệt độ oi bức của thời tiết tháng sáu. Phóng tầm mắt hướng về cửa biển ánh màu xanh thẳm, chúng tôi cứ suýt xoa trước vẽ đẹp kỳ thú của biển trời bao la. Cầu Mỹ Thanh 2, một công trình trọng điểm và bề thế nhất trên tuyến Nam Sông Hậu cách cửa sông Mỹ Thanh khoảng 2 km không những làm được chuyện nối liền đôi bờ của địa phận Vĩnh Châu - Trần Đề mà còn giúp cho khách bộ hành lặng ngắm những nét hoành tráng của cửa biển trời Mỹ Thanh.

Cầu mới có qui mô lớn tương đương cầu Mỹ Thanh 1, với chiều dài 611 mét, mặt cầu rộng 12 mét. Từ đây, con đường Nam Sông Hậu vào địa phận xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu và nối đường tỉnh 113 dọc bờ biển Vĩnh Châu về Bạc Liêu và hướng ngược lại nối liền với địa phận Cần Thơ. Anh bạn đồng nghiệp vốn khá rõ về vùng đất này cho tôi biết chỗ nào là hướng của Hồ Bể, chỗ nào là khu vực Xâm Pha, đâu là rừng chà là với món khoái khẩu của dân nhậu: Đuông chà là.

Theo người dân địa phương cho biết, ngày trước khi đám chà là còn được gọi là rừng thì con đuông chà là cũng là “con” xóa đói – giảm nghèo của không ít hộ dân nơi đây. Cây chà là đầy gai góc, muốn chặt được một ngọn chà là có đuông thật không dễ chút nào… Hình ảnh đôi vợ chồng người nông dân lam lũ vác bó đọt chà là xuống chợ Vĩnh Châu để bán mà tôi vô tình gặp vài năm trước. Không biết còn theo “nghiệp” ấy nữa không? Nếu có thì chắc là anh chị “di chuyển” sẽ nhanh hơn trên con đường thông thoáng này. Nhưng hôm nay, những đám rừng chà là đã bắt đầu biến dần, nhường chỗ cho những vuông tôm hoành tráng cùng với bao dự án khác như sánh đôi với con đường Nam Sông Hậu thông thoáng và cây cầu Mỹ Thanh bề thế, vững trãi vắt ngang cửa biển rộng mênh mông.

Có lẽ mai này, con đuông chà là sẽ cùng chung với số phận của con cá cháy - một sản vật “kỳ trân vị thuỷ” của của dân vùng ven sông Hậu. Người dân bên đôi bờ Mỹ Thanh còn cho biết, những ngày cuối tuần, có không ít người dân ở TPST, Mỹ Xuyên, Long Phú mà đa phần là cán bộ công chức, tổ chức từng nhóm mướn tàu đi câu cá ở cửa biển. Khi chúng tôi đề cập chuyện tổ chức “du lịch câu cá”, anh Lâm Sơn - chủ một quán nước cho biết: “Bà con nơi đây cũng đã “tính” chuyện này lâu rồi. Nhưng một phần hạn chế đồng vốn, một phần chưa có kinh nghiệm làm chuyện này nên sợ bị lỗ. Nghe nói ở Vũng Tàu, Phú quốc thực hiện mô hình du lịch cây cá “ngon ăn” lắm, người ta “làm” được nhưng dân mình là dân “hai lúa”, sợ khó ăn.

Rời Mỹ Thanh, chúng tôi nhấn ga phóng tới khu vực du lịch Hồ Bể - một địa danh mà vài năm nay trở thành nơi quen thuộc của người dân Sóc Trăng đến vui chơi, giải trí vào những ngày lễ, ngày cuối tuần, nhất là giới trẻ. Hồ Bể toạ lạc tại ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải cách chân cầu Mỹ Thanh 2 khoảng 2 km. Bãi biển Hồ Bể là sản phẩm độc đáo mà thiên nhiên đã ban tặng cho bờ biển Vĩnh Châu. Với bãi cát vàng khá sạch sẽ chạy dài trên 4 km tuy còn khá hoang sơ nhưng ẩn chứa nét đẹp của một khu vui chơi vùng ven biển.

Anh Tôn - chủ một quán nhậu bình dân trên con đường dẫn ra Hồ cho biết: “Từ khi con đường Nam Sông Hậu hoàn thành thì những ngày cuối tuần người dân ở các nơi kéo về khá đông. Có người đến tắm, có người tổ chức nhậu nhẹt ca hát, có người còn vác theo cần cây để câu cá ngát…” Thấy chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, anh Sơn nói thêm: “Cá ngát ở bìa rừng giáp biển khá nhiều, cá không lớn lắm, chừng bắp tay thôi nhưng chắc thịt, nấu với trái bần thì nhậu hết ý”.
Rồi anh đột ngột hỏi chúng tôi: “Mấy anh ăn cá Thòi lòi nấu canh chua chưa ? Ngon hết ý”.

Chúng tôi nhìn nhau như “hội ý”. Lại thêm một món lạ, cá thòi lòi kho tiêu hay nướng muối ớt thì ăn đã nhiều nhưng với món canh chua thì chưa. Anh chủ quán xăng xái bóc điện thoại gọi: “Có thòi lòi không mậy ? Đem lại tao một mớ đi, đủ nấu canh chua, kho tiêu cho 3- 4 người ăn thôi. Chừng hơn một ký được rồi.”. Gác điện thoại, anh nói: “Thằng cháu nó “chuyên gia” câu thòi lòi, mối của quán tôi đó, mấy anh yên tâm giá cả bình dân thôi.” Trong khi chờ đơi, chúng tôi đảo một vòng ra Hồ Bể vừa để ngắm cảnh thiên nhiên vừa cảm nhận thêm sinh khí tuy còn manh nha nhưng sẽ sớm hứa hẹn nơi đây sẽ là khu vui không kém phần hấp dẫn…

Buổi trưa hè khá nóng bức nhưng dưới mái nhà lợp lá dừa nước đã làm dịu đi không khí oi bức. Chúng tôi quây quần bên nồi canh chua với nào là cá ngát, thòi lòi mà cá nhiều hơn bắp chuối, đang bốc lên mùi thơm lừng lựng. Canh chua cá thòi lòi cũng hấp dẫn không kém bất kỳ loài cá nào. Gắp một miếng thịt cá thòi lòi chắc nịch từ tô canh chua bốc khói, chấm vô chén muối dầm ớt hiểm mà “mồ hôi lưỡi” (ứa nước miếng đó mà!) đã đổ lúc nào không hay.

Thử một miếng đầu cùng với ly rượu đế, chúng tôi gật gù: Quá bắt! Món này ăn không biết ngán đây! Và càng ngạc nhiên hơn: Một bữa cơm, rượu “hoành tráng” như vậy mà chỉ có hơn sáu mươi ngàn. Anh chủ quán nói: “Quán nhà quê bình dân mà”. Vậy đó, vùng đất mới ta tạm gọi như thế, đã hội tụ đủ các yếu tố cho cuộc làm ăn mới: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà. Hy vọng trong nay mai Mỹ Thanh - vùng đất huyền thoại sớm vượt qua cái ngưỡng nghèo để vươn lên khá giàu như bao thế hệ người dân nơi đây đã từng mơ ước.

Theo Thiên Lý (báo Sóc Trăng)
Du lịch, GO!

Đi hết Ghềnh Ráng

(PNO) - Cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 3km về hướng Đông Nam, Ghềnh Ráng là một địa điểm tham quan không thể bỏ qua khi đến Quy Nhơn.

< Mộ Hàn Mặc Tử.

Hôm ấy, chúng tôi quyết định thuê xe máy để chủ động ngao du, dừng chân nghỉ ngơi, chụp hình. Trước đó, chúng tôi đã “nghiên cứu”, Ghềnh Ráng là khu đồi nằm dưới chân núi Xuân Vân rộng khoảng 35ha. Biển bên dưới là sự hợp thành của những bãi đá nối tiếp nhau, uốn lượn theo đường cong của núi. Bên trên có những khối đá thật lớn mà người đời thêu dệt nhiều huyền thoại càng khiến bước chân tò mò của du khách tìm đến nơi này. Từ cổng chào đi lên đồi, chúng tôi dừng lại để chụp hình và ngắm thành phố Quy Nhơn nằm dọc theo bờ biển hình vòng cung. Khung cảnh trời, mây, nước thật đẹp.

< Cổng vào nhà thờ đá.

Điểm tham quan đầu tiên là mộ Hàn Mặc Tử, là ngôi mộ được cải táng di dời đến đây vào năm 1959 để thuận tiện cho khách thăm viếng. Mộ nằm ở vị trí cao, có bậc cấp đi lên hai bên hai hàng cau.

Khu mộ đơn giản, sạch sẽ, quang cảnh đẹp và thanh bình. Mộ có tượng Đức Mẹ nhìn xuống. Nơi đây rất nhiều du khách, văn nhân thăm viếng thường xuyên nên không có vẻ lạnh lẽo, hoang phế mà ngược lại rất ấm cúng.

< Bãi Trứng.

Có một điểm tham quan mà rất nhiều du khách bỏ qua (do không biết) khi đến Ghềnh Ráng bởi cổng vào hơi bị khuất, khó thấy, đó là nhà thờ đá đối diện với khu mộ Hàn Mặc Tử. Nhà thờ đá nằm sâu phía bên dưới, về hướng biển.

Đứng trước cổng gỗ đơn sơ du khách khó tưởng tượng được quang cảnh thơ mộng bên trong. Bước qua cổng gỗ, một không gian xanh mát khiến bước chân du khách bị cuốn theo (lên, xuống) con đường lát đá, càng đi càng cảm thấy bị chinh phục bởi khung cảnh yên bình, dễ chịu. Cạnh nhà thờ đá còn có một nơi để tham quan nữa là Đền Bà Chúa Ngọc.

< Bãi biển Quy Hòa.

Rời khỏi nhà thờ đá, chúng tôi vào một nhà hàng và thưởng thức ly cà phê trước khi tiếp tục cuộc hành trình.

Từ trên nhìn xuống biển sẽ thấy các bãi tắm như Bãi Tiên, hay Bãi Trứng với đá được bàn tay sắp xếp của thiên nhiên trông rất đẹp và kỳ lạ, nơi này còn được gọi là Bãi tắm Hoàng Hậu. Tương truyền rằng, trong những lần theo vua Bảo Đại đi kinh lý các tỉnh miền Trung, hoàng hậu Nam Phương đã chọn nơi đây là bão tắm riêng cho mình.

< Làng phong Quy Hoà.

Rời Bãi Trứng, chúng tôi tiếp tục khám phá Ghềnh Ráng. Phía trên là rừng, bên dưới là biển. Cảnh đẹp hoang sơ. Vòng vèo theo núi, chúng tôi dừng lại trên một vị trí cao và nhìn xuống bãi biển Quy Hòa bên dưới trông rất nên thơ với biển xanh, cát trắng, tiếng sóng xa xa vọng lên, tiếng cây rừng cựa mình, tiếng chim ríu rít…

< Khu vườn tượng.

Rồi từ đây chúng tôi bắt đầu đổ dốc và đến cổng Bệnh viện Phong – Da liễu trung ương Quy Hòa. Sau khi mua vé vào cổng 10 ngàn đồng/người chúng tôi vào khu vực Quy Hòa.

Theo các tài liệu, thung lũng Quy Hòa được linh mục người Pháp Paul Maheu (1869 - 1931) tìm ra cách đây hơn 80 năm, khi ông cảm nhận vẻ yên bình hiếm có, cách biệt với thế giới bên ngoài, thật lý tưởng để xây dựng một khu điều trị bệnh nhân phong mang tên Bệnh viện Laproserie de Quy Hòa.

Năm 1932, Giám đốc bệnh viện, sơ Charles Antoine và người phụ tá là sơ Ozithe - vốn là kiến trúc sư, đã đặt ra chương trình xây dựng lại bệnh viện và xây dựng nhà ở để người mắc bệnh phong có nơi trú ngụ kiên cố, lâu dài dựa vào việc vận động các nhà hảo tâm.

Khu điều trị phong Quy Hòa được đánh giá là một trong những bệnh viện đẹp và độc đáo nhất thế giới.

< Khu mộ cũ của Hàn Mặc Tử.

Tại đây có mộ (cũ) của Hàn Mặc Tử, nơi chôn ông sau khi mất. Biển Quy Hòa sóng vỗ hiền hòa, tượng Chúa Giê-Su trên cây thập tự nhìn ra biển, một hang đá có tượng các thiên thần trông rất bình yên.

Theo con đường bê tông chúng tôi đến khu vực vườn tượng. Ở đây có hơn 50 bức tượng của danh nhân Y học thế giới. Ngồi trên ghế đá, dưới bóng hàng dương, nhìn ra biển quanh năm sóng vỗ, những bức tượng trầm mặc, những con người hy sinh cuộc đời mình cho y học, mới cảm nhận được cuộc sống có ý nghĩa vô cùng. Nơi đây còn có Tu viện Phan Sinh Thừa sai Đức Mẹ.

< Những di vật của Hàn Mặc Tử.

Chúng tôi tiếp tục dạo quanh làng phong, ghé thăm Nhà trưng bày các di vật Hàn Mặc Tử và cảm thấy ngoài cuộc sống bình yên của những người bất hạnh còn có sự ấm áp tình người sẻ chia.

Rời khỏi làng phong, chúng tôi bắt đầu lên dốc. Trên đường ra chúng tôi thấy cơ sở chính của Bệnh viện Da Liễu Quy Hòa khang trang nằm đường lớn. Chúng tôi không rẽ ra đường này mà theo con đường ôm vòng lấy núi. Đường láng nhựa, xe chạy êm. Và cuối cùng, về đích là cổng khu du lịch Ghềnh Ráng.

Như vậy, chúng tôi đã đi một vòng hết Ghềnh Ráng, tham quan được nhiều địa điểm, cảm nhận nơi đây không chỉ có cảnh quan thiên nhiên đẹp mà còn có tấm lòng của con người với những mảnh đời bất hạnh…
Một tour du lịch rất có ý nghĩa!

Theo Kim Duy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Sự hài hước sau những tấm ảnh Playboy

(Giải trí) - Bộ ảnh hậu trường cho thấy những điều khá... hài hước trong quá trình chụp ảnh nude của những siêu mẫu trên tạp chí Playboy. 'Siêu mẫu' trên báo ảnh thật, nhưng trong cái sự trần tục đời thường lúc thi hành 'bổn phận nghề nghiệp' cũng có lắm cái vui nhộn mà người tạo bộ ảnh này đã biến hóa thành... 'cái sự cười'.

Nhiều người cho rằng Playboy là tạp chí khiêu dâm. Nhưng tiêu chí của tờ báo này là 'tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ' với mỗi tấm hình nóng bỏng là một 'tác phẩm nghệ thuật'. Những hình ảnh nude trên tạp chí được nghĩ theo cách nào, đó là do quan điểm thẩm mỹ và nhận thức cá nhân của người đánh giá.

< Ơ, chụp cái gì đó cha?

Để xuất hiện trên tạp chí, mỗi tấm hình sau khi xử lý hoàn thiện phải qua các khâu thẩm định, xét duyệt từ vài tuần tới thậm chí cả tháng. Và trước các bước đó, những nhiếp ảnh gia, người mẫu cùng ê-kíp đã mất nhiều giờ đồng hồ để thực hiện tác phẩm.

< Tiêu điểm là chỗ này nha mấy tía, không bấm lộn xộn nghen!

Chùm ảnh dưới đây của nhiếp ảnh gia người Hà Lan - Patrick Van Dam đã cho thấy một góc nhìn hài hước khi thực hiện các tấm hình này.

< Khởi đầu giờ làm việc, dép lê là thứ phải cởi bỏ trước tiên để thế 'hàng hiệu' vào.

Nếu bạn mong chờ đó là góc cảnh nude bất ngờ, thì những khoảnh khắc hậu trường lại mang đến sự "tình cờ đến bất ngờ" của một trong những thứ chúng ta tò mò nhất - vẻ đẹp trần trụi của con người.

< Với nhà nhiếp ảnh Patrick Van Dam, cái đáng chụp là... mông chuyên viên tạo dáng chứ không phải cô mẫu 'xấu xí' kia.

< Nữ hộ sinh, bác sĩ và bà bầu à?Hổng phải!

< Chụp kiểu gì mà chỉ thấy bò lê bò lết cả đám, có lẽ rớt mất đồng xu?

Playboy là tạp chí dành cho đàn ông, được thành lập ở Chicago bởi "ông trùm" Hugh Hefner.

< Cảnh cáo ông nhé, lần sau có chộp ảnh thì phải ăn bận cho đàng hoàng nghiêm chỉnh chứ nhự dzậy thì tui hổng chịu đâu à.
- Đừng lo, mẫu Playboy thường chỉ bấm nút... 1 lần là dìa hưu.

< Giữa khe hở có hai kẻ lăm le.

Lần đầu tiên ra mắt vào năm 1953, tạp chí Playboy đã ngay lập tức trở thành một sản phẩm dành cho phái mạnh thành công ngoài sức mong đợi...

< Anh đo sáng hay đo độ 'nóng bỏng' của tui?

Tạp chí được xuất bản ra hàng tháng với bìa là ảnh chụp "nóng bỏng", kèm theo nhiều bài báo về thời trang, thể thao, sản phẩm... thậm chí là chính trị với quan điểm phóng khoáng.

< Một nam, một nữ chuyên viên và... một cái mông!

Khi mới ra mắt, tạp chí Playboy được đặt tên là “Stag Party”, được hiểu như một bữa tiệc của những người đàn ông trưởng thành.

< Siêu mẫu đâu hổng thấy, chỉ thấy cái này!

Nhưng do sự tranh chấp bản quyền về tên gọi này với một tạp chí khác, giám đốc sáng tạo lúc bấy giờ là Hugh Hefner đã đổi tên tạp chí thành “Playboy” và nó tồn tại, phát triển tới tận ngày nay.

< Án mạng?

< Cưng mà còn sợ lạnh thì chị đổ ly nước đá này lên lưng liền đó nha!

Playboy không chỉ là một tạp chí mà còn phát triển ra nhiều hình thức nghe nhìn khác.

< Chân dài nhưng vẫn thiếu bề cao cần thiết? Đã có cái xô...

Nguồn tài chính của Playboy hoàn toàn không dựa vào doanh thu từ việc xuất bản tạp chí mà là nguồn thu “khủng” từ các câu lạc bộ đêm và các sòng bạc.

< Hở hết, má la. Thôi thì đậy lại tí nha?

< Giờ giải lao của các cô mẫu: tranh thủ vào Facebook...

Theo báo Đất Việt
Du lịch, GO!

Khám phá Thiên Ấn Niêm Hà

Thiên Ấn là tên một ngọn núi nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, về phía hạ lưu, cách thành phố Quảng Ngãi chừng 3 cây số về hướng đông bắc, thuộc địa phận thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc hợp thành cặp biểu tượng sơn thuỷ thiêng liêng trong tâm thức người Quảng Ngãi.

Núi Thiên Ấn thật ra là một quả đồi cao 106 mét, trông từ 4 phía đều tựa hình thang cân. Vào mùa nước đầy, nhìn từ phía bờ bắc, dòng nước sông Trà Khúc chảy theo hướng tây nam - đông bắc, như dồn vào chân núi; rồi lại từ chân núi, theo hướng tây bắc - đông nam, đổ về cửa Đại. Giữa một thiên nhiên thoáng đãng, ngọn núi như chiếc ấn của trời cao niêm xuống dòng sông xanh, nên người xưa gọi là Thiên Ấn niêm hà. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), núi được liệt vào hàng danh sơn và ghi vào điển tích.

< Núi Thiên Ấn.

“Thiên Ấn niên hà” có từ đấy, nghĩa là: ấm trời đóng trên sông, dòng sông đó chính là dòng sông Trà Khúc. Hình ảnh của núi của sông đó trở thành biểu tượng của Quảng Ngãi và sánh ngang với vẻ đẹp của “Núi Tản – Sông Đà” tượng trưng cho xứ Đoàn hay “Sông Hương – Núi Ngự” tượng trưng cho mảnh đất cố đô Huế….

< Bảo Tháp Thiền Sư Pháp Hòa.

Đỉnh núi Thiên Ấn bằng phẳng, tạo thế nhìn phóng khoáng, bao quát một vùng không gian rộng lớn với những ruộng đồng, đồi núi, làng mạc, sông nước, hợp thành một bức tranh phong cảnh hữu tình. Sườn núi Thiên Ấn có nhiều cỏ tranh, phía đông sườn núi có chùa Thiên Ấn nằm giữa lùm cây cổ thụ rậm rạp.

Chùa Thiên Ấn khởi công xây dựng vào năm 1694, hoàn thành cuối năm 1695 (niên hiệu Chính Hòa thứ 15), đời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng Trong. Trong khuôn viên chùa có cái cái giếng cổ sâu sâu 21 mét, nước mát trong, đào từ lúc khai sơn, tương truyền được đào quết nhiều năm liền, tục gọi Giếng Phật.

< Giếng Phật.

Chùa còn có quả chuông lớn thỉnh về từ làng đúc đồng Chú Tượng năm 1845, dưới triều vua Thiệu Trị, tục gọi là Chuông Thần. Giếng Phật, Chuông Thần đều đã đi vào thơ ca và gắn với những huyền thoại lý thú, đi vào thơ ca vịnh cảnh Thủ khoa Phạm Trinh từng có câu: “Giếng Phật mạch sâu mùi nước ngọt/ Chuông Thần đêm vắng giọng đưa thanh”.

< Di tích lịch sử trên núi Thiên Ấn.

Tổ khai sơn ngôi chùa là Thiền sư Pháp Hóa (1670-1754), tục danh Lê Diệt, hiệu Minh Hải Phật Bảo, gốc người tỉnh Phúc Kiến (Trung Hoa) thuộc dòng thiền Lâm Tế. Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am, sau đó dần dần trùng tu, mở rộng, thu hút được nhiều tăng ni phật tử và trở nên nổi tiếng. Năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1716, đời vua Lê Dụ Tông), chúa Nguyễn Phúc Chu, một người rất sùng mộ đạo Phật, đã ban cho nhà chùa biển ngạch Sắc Tứ Thiên Ấn Tự.

Chùa Thiên Ấn từng là nơi hội ngộ, đàm đạo, xướng hoạ thơ ca của nhiều thế hệ thi sĩ, từ Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Thông, Phạm Trinh, Lê Kỉnh đến Bích Khê, Nguyễn Viết Lãm... cùng các thiền sư Hoa, Việt nổi tiếng cả về đạo hạnh lẫn thơ văn.

Vào những dịp lễ lớn, khách thập phương đến viếng Thiên Ấn lên đến hàng vạn người, trong đó có không ít người từ phương xa trở về. Họ có thể là tín đồ Phật giáo về đây lễ Phật và cầu nguyện, cũng có thể là người không theo đạo nhưng yêu mến cảnh chùa, muốn được dịp chiêm ngưỡng thắng cảnh hàng đầu của Quảng Ngãi, dành một khoảng thời gian để lòng mình tĩnh lặng, thanh tẩy tâm hồn, suy ngẫm nhiều điều về cuộc đời và lẽ đạo.

Du lịch, GO!

Núi Thiên Ấn

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Hội 'bắt chồng' của thiếu nữ Chu Ru

(VnExpress) - Vào ban đêm, khi mọi người đã say giấc nồng, thiếu nữ Chu Ru (Lâm Đồng) cùng 10 người thân trong gia đình sẽ đến nhà trai thực hiện việc "bắt chồng".

Tháng 2, tháng 3 trên Tây Nguyên mùa hoa cà phê nở trắng, những bông hoa pơlang trên những thân cây cao vút nở rực cả đất trời, khi mùa con ong đi lấy mật cũng là lúc ở khắp các bản làng của đồng bào Chu Ru ở Lâm Đồng rộn ràng bước vào mùa cưới, mùa bắt chồng của các thiếu nữ.
Người dân tộc Chu Ru ở Tây Nguyên sống theo chế độ mẫu hệ vì vậy khi một thiếu nữ đến tuổi lấy chồng, không giống như các dân tộc khác, họ phải mang lễ vật đi hỏi chồng với chi phí khá tốn kém.

Riêng của cưới để mang sang cho nhà trai cũng phải tốn cả cây vàng, chưa kể đến tiền chi phí làm lễ tiệc chiêu đãi khách khứa trong lễ cưới của cả hai bên gia đình.

Thường sau khi nhà gái thưa chuyện với nhà trai, bà mối đeo chuỗi cườm và nhẫn đính hôn cho chàng trai thay cho lời hỏi cưới. Chàng trai chịu đeo nhẫn vào tay đồng nghĩa với việc chấp thuận làm chồng cô gái. Đại diện nhà trai sẽ đeo nhẫn (gọi là srí) cho cô gái và đồng ý cho người con gái làm dâu nhà mình. Họ nhà gái sẽ tặng lễ vật cho họ nhà trai để bày tỏ lòng thành. Lễ cưới diễn ra xong xuôi cũng là lúc hai họ ăn mừng bên hũ rượu cần và mâm lễ.

Để làm nên được cặp nhẫn cưới cũng phải tốn khá nhiều công sức. Vật liệu chính để làm cặp srí này ngoài bạc sẽ là sáp ong, phân trâu và một ít đất sét lấy từ nơi bí mật trong khu rừng già. Người Tây Nguyên quan niệm con trâu là một vật linh thiêng và mang sức mạnh của sự đấm ấm, sung túc, còn sáp ong thể hiện sự chăm chỉ, cần mẫn.

Người ta lấy sáp ong nấu chảy, trộn phân trâu rồi dùng que gỗ tròn ước chừng bằng những ngón tay nhúng vào, chờ khô rút que gỗ ra, sáp ong và phân trâu khô quánh thành những ống tròn, người ta cắt thành những khuyên tròn làm khuôn đúc nhẫn. Sau khi bạc đã được đun nóng chảy thì đổ vào khuôn, sáp ong và phân trâu trước sức nóng của bạc mới nấu chảy sẽ dính chặt vào bạc thành một lớp men bao bọc bên ngoài.

Người thợ đúc nhẫn cũng phải được lựa chọn trước và có những kiêng kị. Đêm trước đúc nhẫn, người thợ sẽ được tắm rửa sạch sẽ bằng nước một loại lá rừng có mùi thơm, không được gần gũi vợ... Khi đúc nhẫn cũng phải chọn giờ đẹp, từ 4h-8h vì theo quan niệm của người dân tộc, đây là giờ đẹ, giờ thiêng cho sự gắn kết lứa đôi.

Nhưng do những tập tục cưới hỏi tốn kém này mà nhiều thiếu nữ Chu Ru sinh ra trong gia đình không khá giả khó có cơ hội lấy được chồng theo đúng phong tục cưới xin truyền thống. Chính vì vậy mà những thiếu nữ Chu Ru có tục "bắt chồng" khá độc đáo.

Thường bắt đầu từ mùng 1 Tết cho đến hết tháng 3 âm lịch là mùa "bắt chồng" diễn ra rộn ràng ở Tây Nguyên. Theo phong tục, khi đã ưng ý một chàng trai nào đó, cô gái sẽ về thông báo với gia đình. Vào ban đêm, khi mọi người đã say giấc nồng, thiếu nữ cùng 10 người thân trong gia đình sẽ đến nhà trai. Trước đây, những thiếu nữ không đủ tiền để cưới chồng chỉ cần dệt cho mình 3 chiếc khăn thổ cẩm để làm lễ vật sang nhà trai.

Mặc dù có sự thăm viếng đột ngột nhưng nhà trai thường vẫn niềm nở đón khách. Sau đó, cô gái dâng 3 tấm khăn được gấp gọn ghẽ dâng lên phía trước. Ông trưởng đoàn (thường là cậu ruột) sẽ xin thưa với nhà trai, rằng cháu gái họ đã để ý và đem lòng yêu thương chàng trai, mong gia đình chấp nhận. Sau cuộc trò chuyện giữa hai bên, nếu cha mẹ chàng trai đồng ý, sẽ vào gọi con trai ra và hỏi ý kiến con trước khi trả lời nhà gái.

Nếu được sự đồng thuận, cô gái sẽ dâng khăn cho chàng trai và kể từ giây phút đó, họ đã được chấp nhận là con cái trong nhà. Hai bên tiến hành lễ hợp hôn cho đôi trai gái. Cô dâu (sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ trùm chung một tấm khăn trong khi nghe lời răn dạy của các bậc cao niên hai dòng họ về cuộc sống gia đình. Đến khoảng 1-2 giờ sáng, đôi trai gái sẽ được đưa về nhà gái, chính thức nên vợ thành chồng.

Nếu cha mẹ chàng trai không ưa, họ cũng tìm cách khước từ một cách tế nhị để nhà gái ra về mà không cảm thấy bị bẽ mặt. Nếu cô gái vẫn ưng chàng trai này, sau 7 ngày, cô gái lại chọn một đêm đẹp trời đến nhà chàng trai cho đến khi được chấp nhận.

Nhưng thường những đám "bắt chồng" đều thành công bởi ngày nay, nam nữ đã có dịp tìm hiểu và yêu thương tha thiết. Tục bắt chồng chỉ là một cái cớ để những cô gái nhà nghèo có thể kiếm được một tấm chồng ưng ý.

Sau khi được đồng ý, cô dâu sẽ phải ở nhà chồng một tuần. Ngoài việc trổ tài làm nội trợ và làm các công việc nặng nhọc khác, cô dâu mới còn phải tự bỏ tiền túi ra sắm sửa một số đồ dùng cần thiết cho chồng. Đến ngày thứ 8 hoặc thứ 10 thì nhà gái mới đem lễ vật, có thể là một con heo hoặc lương thực, thực phẩm đủ làm 5-7 mâm cỗ cho nhà trai, gái thết đãi họ hàng, bà con. Tàn cuộc vui, nhà gái đưa các con về ở bên nhà mình.

Trong đám cưới, người thân, dân làng sẽ tổ chức màn đấu chiêng nhằm mong muốn cho mọi sự mâu thuẫn, bất đồng giữa hai họ sẽ được bỏ qua, cùng chung vui cho cặp vợ chồng mới cưới.

Theo Anh Phương (Du lịch VnExpress)
Du lịch, GO!