Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Chế Tạo

(YBO) - Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Chế Tạo nằm trên địa phận hành chính xã Chế Tạo, Lao Chải, Dế Xu Phình, Púng Luông, Nậm Khắt huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên bái và trải dài từ 21038’36’’ đến 21048’ vĩ độ Bắc, từ 103056’27’’ đến 104010’48’’ kinh tuyến Đông, cách thị trấn Mù Căng Chải về phía Nam khoảng 10km theo đường chim bay với tổng diện tích tự nhiên là : 64.337ha.

Đây là vùng đất nằm về sườn phía Tây dãy núi Hoàng Liên Sơn, dãy núi cao nhất của Việt Nam, nên địa hình thuộc loại hình núi cao. Độ cao cao nhất là đỉnh 2.512m, nơi thấp nhất (400m) là thung lũng Nậm Chai, gianh giới giữa Yên Bái và Sơn La. Địa hình rất phức tạp với độ chia cắt sâu và dày tạo ra bởi hệ thống các dãy dông và sông suối trong vùng. Hệ thống dông lớn nhất là cánh cung chạy từ phía Tây bắc qua phía Đông sang phía Tây nam khu bảo tồn luôn có độ cao trên 2.000m với các đỉnh cao 2.512, 1.416, 1.445 và 2.048m tạo ra thung lũng Chế Tạo.

Hệ thống núi này giữ vai trò quan trọng không chỉ là nơi còn nhiều rừng nguyên sinh - sinh cảnh tốt nhất cho loài Vượn đen sinh sống, mà còn là đầu nguồn của nhiều sông suối. Đó là Nậm Kim, Nâm Mo ở phía Đông Bắc, Bắc và phía Tây; Nậm Chai ở phía Nam và Nậm Chiến ở phía Đông Nam. Hệ thống khe, suối của Mù Cang Chải phân bố khá dày đặc mang lại cho khu bảo tồn thiên nhiên khí hậu mát mẻ, trong lành. Mặc dù nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do địa hình chi phối nên khu vực Chế Tạo có chế độ khí hậu á nhiệt đới rõ rệt đã ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển, tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hóa khí hậu khu vực. Xuất hiện nhiều giông tố, mưa đá, mây mù và sương muối. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân bố, cũng như tình hình sinh trưởng, phát triển của động, thực vật nơi đây.

Thảm thực bì trong Khu bảo tồn có các kiểu chính sau:

- Rừng lùn nguyên sinh trên núi cao gồm tầng cây gỗ ưu thế và tầng thảm tươi .
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi cao.
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp.
- Kiểu rừng thứ sinh trên núi thấp.
- Trảng cỏ và cây bụi.

Hệ thực vật Chế Tạo thuộc loại khá giầu về thành phần loài và thành phần họ thực vật cũng rất phong phú. Số họ có từ 10 loài trở lên chiếm 1 tỷ lệ đáng kể. Ví dụ như Lan, Long não, Nhân sâm, Đỗ Quyên, Dẻ, Chè, Cói... Trong số 788 loài ghi nhận được có tới 33 loài thuộc diện quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và danh sách đỏ thể giới.

Khu hệ động vật Chế tạo điển hình cho khu hệ động vật Tây Bắc và có nhiều liên quan đến động vật của dãy Hoàng Liên Sơn -  xã Phình Pu Luông. Do địa hình hiểm trở, môi trường tự nhiên phức tạp nên hệ động vật cũng rất đa dạng và phức tạp. Trong những cánh rừng ngút ngàn, qua nhiều năm khảo sát, các nhà nghiên cứu đã phát hiện 22 loài bò sát, lưỡng cư; 127 loài chim chia thành các bộ và họ. Riêng họ khướu có tới 41 loài như: Khướu vằn, Khướu đuôi đỏ, Khướu đất Pigmi, Khướu lùn đuôi đỏ, Khướu mào cổ hung, Khướu mỏ dẹt vàng,… Kế đến là loài Chim chích với 10 loài như: Chích cụt đuôi bụng xanh, Chiền chiện núi họng trắng, Chích bông đầu vàng, Chích đớp ruồi màu đen, Chích mày sám...

Quý hiếm hơn cả là loài Gà Lôi tía và loài niệc cổ hung Aceros Nipalensis, hiện nay chỉ còn thấy ở Mù Cang Chải và vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An). Nơi đây, chỉ còn 28 - 30 cá thể nhưng cũng là quần thể niệc cổ hung lớn nhất Việt Nam. Các loài thú hết sức phong phú với 53 loài khác nhau như: cầy vằn, nhím đuôi ngắn, cu li nhỏ, chó sói, khỉ mốc, lợn lòi, nai, khỉ mặt đỏ, sơn dương, gấu, ngựa, báo gấm, báo lửa, báo hoa mai, voọc xám… Đặc biệt là loài vượn đen tuyền với khoảng hơn 200 cá thể, hiện nay tại Việt Nam mới chỉ xác định ở hai địa điểm là phía Bắc huyện Văn Bàn (Lào Cai) và vùng giáp ranh giữa Mù Cang Chải (Yên Bái) và Mường La (Sơn La). Đây là các loài động vật chỉ còn một số lượng cá thể loài rất hạn chế và đang tiếp tục bị đe dọa tuyệt chủng.

Với dân số là chủ yếu là người Mông, chiếm 90%, chia làm bốn nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng); Mông Đu (Mông Đen); Mông Lình (Mông Hoa); Mông Si (Mông Đỏ) với truyền thống văn hóa dân gian phong phú, đặc sắc luôn gắn bó với thiên nhiên, khao khát vươn tới cái đẹp, cái thiện thể hiện qua các phong tục, lễ hội, các làn điệu dân ca là tiềm năng lớn cho phát triển loại hình du lịch văn hóa. Ngoài ra, nơi đây còn lưu giữ được một kho tàng truyện cổ về các tục lệ, lịch sử tộc người, văn hóa tộc người thể hiện tinh thần thượng võ của cha ông được truyền từ đời này qua đời khác.

Với những tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú, Mù Cang Chải kết hợp cùng du lịch văn hóa Mường Lò và khu sinh thái Suối Giàng (Văn Chấn) sẽ tạo nên một không gian du lịch sinh thái văn hóa rộng lớn ở phía Tây tỉnh Yên Bái.

Theo Yenbai.gov
Du lịch, GO!

Khám phá rừng Chế Tạo

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Mùa hè Nước Moọc

(TTO) - Mùa hè nóng bức được ngâm mình trong dòng suối trong vắt mát đến lịm người, xung quanh là rừng già xanh rì đầy tiếng chim kêu vượn hót, rồi cơm trưa với tôm cá tươi rói bắt dưới suối...
Đó là cảm giác tuyệt vời sau một ngày ở khu du lịch sinh thái Nước Moọc, thuộc vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình, nằm bên đường Hồ Chí Minh (nhánh tây) trong một thung lũng rộng 30ha bốn bề núi đá vôi cao vút.

Non nước hữu tình

Người dân địa phương gọi là Nước Moọc, bởi giữa dòng suối xanh ngắt có nhiều cột nước trồi hẳn lên so với mặt nước, cứ như đang mọc lên từ lòng đất vậy.

Khu du lịch sinh thái Nước Moọc nằm bên đường Hồ Chí Minh (nhánh tây) thuộc địa phận thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đến Nước Moọc có thể đi từ TP Đồng Hới theo đường Hồ Chí Minh nhánh đông, sau đó rẽ lên đường Hồ Chí Minh nhánh tây ở ngã ba xã Phúc Trạch với chặng đường 60km. Hoặc từ Trung tâm du lịch Phong Nha ở xã Sơn Trạch theo đường Hồ Chí Minh (nhánh đông), sau đó rẽ vào nhánh tây với chặng đường hơn 10km. Cũng có thể đi theo đường 20 từ Trung tâm du lịch Phong Nha lên nhánh tây đường Hồ Chí Minh với chặng đường gần 15km.

Đứng trên đường Hồ Chí Minh nhìn xuống là một đoạn suối rộng có những cột nước trắng mọc lên trên mặt nước xanh ngăn ngắt đến lạ kỳ, bởi đá vôi bị bào mòn. Đường vào khu du lịch quanh co dưới những tán cây râm mát, uốn lượn theo con suối giữa rừng đại ngàn. Đôi chỗ du khách phải len lỏi qua những gộp đá cuội lớn như những chú voi nằm phủ phục.

Dòng suối lớn Nước Moọc nhiều đoạn phân chia thành nhiều dòng chảy nhỏ khác, trong văn vắt, đan vào nhau giữa các tầng đá. Dòng nước chỗ thì yên ả len lỏi chảy dưới tán lá rồi bỗng nhiên mất hút đâu đó dưới những khe đá vôi, chỗ lại lồng lên trắng xóa khi gặp nơi thấp hơn. Tất cả đều đổ về làm nên dòng sông Chày mượt mà...

Khu du lịch khá lớn, phía thượng nguồn suối là một hồ nước rộng chừng 90m² với nhiều phiến đá lớn có nhiều vân hoa tuyệt đẹp, nằm dưới những cây cổ thụ sum sê.

Đây là nơi du khách dừng chân nghỉ ngơi, tắm mát và bơi lội hay câu cá. Xa xa về phía hạ nguồn, dòng nước với nhiều thác nhỏ chảy trắng xóa. Từ tháng 4 đến tháng 9 hằng năm, lòng suối nổi đầy bãi đá lô nhô, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên đẹp đến lạ lùng...

Nếu bạn là người thích khám phá điều lạ, hãy để ý sẽ thấy trên các tảng đá sát lòng suối luôn có những lỗ tròn lớn nhỏ ở thân. Có lỗ tròn vành vạnh, nhẵn thín như đã được người tiền sử khoét vào dùng làm cối giã gạo hay giã lá cây làm thức ăn, do nước lũ tạo thành.

May mắn hơn nữa, nếu bạn đến Nước Moọc vào dịp đầu mùa hè, sẽ được mục kích trong một vài lỗ đá như vậy có những chú cá nhỏ ngoe nguẩy đuôi bơi lượn... Cá đã mắc lại đó khi dòng suối rút cạn nước.

Những bữa ăn thú vị giữa rừng xanh

Sau khi lội bộ, ngắm cảnh núi non hùng vĩ hoặc đã bơi lội chán chê, bạn bắt đầu tính đến việc “nạp năng lượng” cho buổi dã ngoại tiếp theo. Nếu dư dả thời gian, bạn hãy mang theo một cần câu cá và ngồi câu dưới suối. Những loài cá câu được là loài đặc trưng của vùng núi đá vôi như chình suối, chình hang động, lăng, cá khe... rất béo.

Du khách có thể nấu nhờ bếp ở khu vực phục vụ của khu du lịch với các món như hầm sả, kho mặn, luộc hoặc nướng... Có một cách tìm thức ăn khác rất vui và tạo nhiều hứng thú, đó là mò tôm càng suối. Bạn chỉ cần mò tay vào các khe nứt của đá hoặc các hốc nước nhỏ dưới suối là bắt được những con tôm càng cỡ ngón tay trỏ và ném lên bờ. Tôm nhảy tí tách trên mặt đá trông quá hấp dẫn.

Nếu thích rau rừng, bạn chỉ cần tìm kiếm đâu đó ở các mảnh đất ven đường là có rau tàu bay non tươi và môn thục làm món canh hay xào tỏi...

Nếu câu được cá lăng, cá chình hãy nhờ hướng dẫn viên vặt cho vài nắm lá mưng hay lá cây lội non là có một bữa ăn đầy hứng thú, đậm chất rừng sâu Trường Sơn. Ở đây, nếu đã đặt trước thì khu du lịch sẽ phục vụ các món ăn như gà Nước Moọc nướng rơm, bò thui, cơm nắm muối vừng... phù hợp với hành trình dã ngoại rừng sâu.

Sau khi thưởng thức cảnh vật và món ăn của rừng Phong Nha - Kẻ Bàng, bạn sẽ kiếm một chỗ nằm trên các tảng đá lớn nhẵn thín ven suối, hay dưới một khóm cây nguyên sinh cách xa bờ suối để nghỉ ngơi.

Nếu có võng hãy mắc vào cây và... đánh một giấc say sưa giữa rừng đại ngàn, trong tiếng chim hót líu lo và nước suối rì rào như ru...

Theo Lam Giang (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Trải nghiệm 'tổ chim' ở suối nước Moọc.
Suối nước Moọc đẹp như tranh

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

Kinh nghiệm cho chuyến du lịch Cát Tiên

(Vnexpress) - Với môi trường tự nhiên hoang dã của rừng nguyên sinh cùng hệ động thực vật phong phú, vườn quốc gia Cát Tiên luôn là điểm tham quan hấp dẫn cho du khách thích khám phá vào dịp hè.

Những thông tin hữu ích sau sẽ giúp chuyến du lịch hè ở Cát Tiên của bạn thêm thú vị.

Vị trí và đi lại

Vườn Quốc Gia Cát Tiên nằm trên ba tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, cách TP HCM 165 km và Đà Lạt 170 km. Nếu từ TP HCM, du khách sẽ đi theo hướng quốc lộ 20 hướng về Đà Lạt đến cây số 125, rẽ trái theo đường Tà Lài, đi thêm 24 km nữa sẽ đến được Cát Tiên.

Đến Cát Tiên sẽ mất khoảng 4 giờ đồng hồ nếu đi bằng xe máy, thường thích hợp cho du khách có kinh nghiệm chạy đường dài và sức khỏe tốt. Bên cạnh đó cũng có thể mua vé đi về Đà Lạt và xin nhà xe xuống cây số 125, sau đó đi xe ôm khoảng hơn 100.000 đồng để đến được Cát Tiên.

Khách sạn – Nhà nghỉ

Ở Cát Tiên có khá nhiều nhà nghỉ với mức giá dao động từ 150.000 – 400.000 đồng/ phòng đôi/ đêm. Hiện có nhiều nhà nghỉ ở trung tâm hành chính, Bàu Sấu và thác Bến Cự,... phù hợp với sự lựa chọn đa dạng của nhiều du khách. Ngoài ra, du khách có thể mang lều hoặc thuê lều để cắm trại qua đêm và tổ chức các cuộc picnic.

Các tuyến tham quan nổi tiếng

Tuyến dễ đi: Với khoảng cách ngắn và địa hình dễ đi thích hợp cho du khách đi bộ hoặc đạp xe tham quan các điểm du lịch khá thu hút như chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của cây Tung cổ thụ, chuỗi ghềnh thác ầm ầm nước đổ của thác Bến Cự, tìm hiểu văn hóa của các dân tộc thiểu số ở làng đồng bào Mạ, S’tieng hay khám phá hình thù độc đáo của cây si trăm tuồi, học hỏi kinh nghiệm về lịch sử ở nơi di khảo cổ Cát Tiên.

Tuyến khó đi: Với khoảng cách xa hàng km từ trung tâm và địa hình trắc trở sẽ thích hợp cho du khách ưa mạo hiểm, thích khám phá và có kinh nghiệm đi rừng. Các điểm tham quan ở Vườn thực vật, Đồi Tượng, Bàu Sấu, Hang Dơi, Đồi Đá Trắng - Nhà Dài sẽ là nơi lý tưởng cho du khách dừng chân khám phá hệ sinh thái động thực vật phong phú ở đây, đồng thời là cơ hội trải nghiệm đi rừng, kinh nghiệm sống rất bổ ích.

Đến với vườn quốc gia Cát Tiên, du khách không chỉ trải nghiệm khám phá núi rừng, tìm hiểu về sinh thái tự nhiên, mà còn có thể trải nghiệm thêm những cảm giác thú vị khác như đi bộ trekking, cắm trại, chèo thuyền ngắm cá sấu, chèo thuyền trên sông Đồng Nai, đạp xe dọc các tuyến đường rừng hay tìm hiểu về văn hóa và cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Ăn uống

Du khách nên tự túc mang theo đồ ăn, thức uống sẽ thích hợp cho các chuyến du lịch dã ngoại của mình, vì ở Cát Tiên phục vụ thực đơn khá ít món và chi phí khá đắt. Bên cạnh đó, tự mang theo đồ ăn, thức uống sẽ đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho du khách trên hành trình vượt hàng cây số đường rừng. Du khách cũng có thể thưởng thức những loại trái cây tươi ngon đặc sản ở đây như mít, soài, sầu riêng, và mua mang theo cho chuyến du lịch hoặc mang về làm quà.

Vật dụng mang theo

Để có chuyến đi hoàn hảo, du khách nên chuẩn bị một số vật dụng chủ yếu như trang phục dài tay màu tối, mũ mềm, giày đi rừng, vớ chống vắt, đèn pin, áo mưa, ống nhòm, lều trại, thuốc chống vắt và muỗi,…

Lưu ý

Vườn quốc gia Cát Tiên là khu dự trữ sinh quyển, cấm tuyệt đối các hoạt động đánh bắt, khai thác và săn bắn. Không được kêu lớn hay chọc phá các loài động vật ở nơi tham quan, tuân thủ và thực hiện theo hướng dẫn của cán bộ vườn quốc gia, tránh đi vào các khu vực nguy hiểm có nhiều thú lớn. Ngoài ra, du khách nên chuẩn bị các vật dụng cần thiết để bảo vệ mình khỏi các loài vắt, muỗi đốt.

Theo Xuân Lộc (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Sân chim Vàm Hồ (Bến Tre)

Nằm dọc ven sông Ba Lai thuộc địa phận hai xã Mỹ Hòa và Tân Xuân, huyện Ba Tri cách thành phố Bến Tre chừng 52km, sân chim Vàm Hồ là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn được hình thành từ tháng 5-1986 do đàn chim trước ở Cù lao Đất, xã An hiệp, huyện Ba Tri di cư tới.

Vàm Hồ là vùng đất ngập mặn với diện tích hơn 40ha trong đó có 15ha rừng chà là nguyên sinh, ngoài ra còn có hơn 7ha đước cạnh rừng chà là do người dân Ba Tri trồng. Để đề phòng cháy rừng, nơi đây đã được chia làm 5 khu, đắp đê phòng hộ chung quanh và dẫn nước từ sông Ba Lai vào. Đây là nơi trú ngụ của cò, vạc... và các loài chim thú hoang dại khác cùng với rừng chà là và thảm thực vật phong phú.

Thảm thực vật Vàm Hồ có dừa nước, chà là, đước, mắm ở tầng cao rất lý tưởng cho các loài chim cư trú, còn ở tầng thấp gồm các loại cây chiếm ưu thế như đước đôi, bụp tra, ô rô, cóc kèn, rau muống biển, lau sậy… rất thuận tiện cho cò, vạc làm tổ sinh sản. Theo ghi nhận của các nhà chuyên môn, đàn chim nơi đây gồm 84 loài thuộc 35 họ và 12 bộ với gần nửa triệu cư dân gồm các loài cò, vạc, cồng cộc, diệc xám, quắm trắng, le le… cùng nhiều loại thú hoang như trăn, rắn, sóc, chồn, dơi, kỳ đà… Vào khoảng tháng Tư, chim ở các nơi bắt đầu tụ tập về đây sinh sản, có thể nhìn rõ trên các ngọn đước nặng trĩu những tổ chim, qua đến tháng Tám chúng lại thiên di đi nơi khác.

So với những năm trước, hiện đàn chim có mức độ tăng trưởng 1,5 lần đưa tổng lượng đàn chim lên đến 700.000 cá thể, ước tính 15 chim trên mỗi m², sân chim Vàm Hồ có nguy cơ không còn chỗ cho chim trong vài năm tới. Năm 2009, trong nỗ lực giữ đất lành cho chim đậu, tỉnh Bến Tre đã triển khai dự án bảo tồn sân chim và mở rộng trồng mới 228.749m² rừng chà là gai, tràm bông vàng, dừa nước, đước… ở khu vực I thuộc xã Tân Mỹ, giáp với sông Ba Lai và cách sân chim hiện hữu không xa, nâng diện tích khu bảo tồn sân chim lên hơn 67ha. Huyện Ba Tri cũng có chủ trương sẽ cho đầu tư khai thác du lịch nhưng có quy hoạch từng khu vực để không ảnh hưởng đến môi trường trong lành và yên tĩnh của đàn chim.

Để đến sân chim Vàm Hồ, du khách có thể đi đường bộ từ thành phố Bến Tre theo tỉnh lộ 885 đến thị trấn Ba Tri rồi rẽ vào ngã Tân Xuân, hoặc theo đường sông về phía sông Ba Lai. Đường vào sân chim càng thú vị khi hai bên bờ sông Ba Lai là cả một màu xanh bất tận với các loại cây ổi, mãng cầu xiêm, so đủa, đậu ván, dừa nước… Tham quan nơi đây, du khách có cái thú đi dạo đường rừng hay bơi thuyền len lỏi trong rừng ngập mặn, ghé thăm khu căn cứ kháng chiến xưa, tìm chút cảm giác lạ khi băng qua những chiếc cầu tre lắt lẻo hoặc ngả lưng thoải mái trên những chiếc võng đung đưa dưới những tán lá rừng, đón ngọn gió mát lành từ dòng sông Ba Lai thổi về.

Đến Vàm Hồ vào đúng thời điểm các loài chim “giao ca” đi kiếm mồi, du khách sẽ được sống trong cảnh tượng thiên nhiên kỳ thú, tưởng chừng mình đang đứng ở sân chim Bạc Liêu nổi tiếng của rừng U Minh Hạ. Cứ vào khoảng 4 – 5 giờ chiều, du khách mới thật sự hào hứng khi xa xa về phía Tây, xuất hiện những chấm nhỏ li ti chuyển động và rõ dần, đó là những cánh cò đang vỗ cánh bay qua dòng sông Ba Lai trước khi đáp xuống thảm rừng chà là xanh biếc. Cả một khu rừng yên tĩnh bỗng trở nên huyên náo do tiếng kêu chíu chít của bầy chim con đói mồi hòa cùng tiếng oang oác của những chú cò bực bội do bị quấy rầy… Khi trời vừa sẫm tối và nhà cò cũng đã về đầy đủ đậu trắng các ngọn cây, cũng là lúc họ hàng nhà vạc lại chộn rộn gọi nhau đi ăn đêm, làm thành một hoạt cảnh “giao ca” rất sinh động và kỳ thú…

Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc, ngôn ngữ cũng có âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, tiếng chim vịt kêu chiều chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…

Tới thăm sân chim Vàm Hồ, du khách được đi dạo đường rừng, bơi xuồng len lỏi trong rừng ngập mặn, tham quan khu căn cứ kháng chiến, đi qua những chiếc cầu tre lắt lẻo, ngả lưng trên chiếc võng đung đưa dưới tán lá rừng, hít thở không khí trong lành của dòng sông Ba Lai.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

Bàu Sấu: khu Ramsar thứ hai của VN

(Vnexpress) - Đi bộ trekking vượt 5 km đường rừng, khám phá vẻ đẹp kỳ lạ của cây tùng cổ thụ, chèo thuyền ngắm vương quốc cá sấu là những trải nghiệm thú vị với du khách khi đến Bàu Sấu, Đồng Nai.

< Một góc Bàu Sấu.

Bàu Sấu (thuộc Vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên, Đồng Nai) được Ban Thư ký Công ước Ramsar tại Thụy Sĩ công nhận là khu Ramsar thứ hai ở Việt Nam, có tầm quan trọng quốc tế. Bàu Sấu hay còn gọi là hệ đất ngập nước Bàu Sấu có diện tích 13.759 ha, bao gồm 5.360 ha đất ngập nước theo mùa và 151 ha đất ngập nước quanh năm.

Du khách đến với Bàu Sấu không chỉ trải nghiệm du lịch khám phá rừng nguyên sinh hay để tổ chức các buổi picnic, cắm trại,… mà còn có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của cây tùng cổ thụ, chèo thuyền ngắm đàn cá sâu bơi lội trong đầm hay thưởng ngọn khung cảnh nên thơ và trữ tình của non nước Bàu Sấu hòa quyện tạo nên.

Dưới đây là những trải nghiệm cảm giác mà du khách có được khi một lần đặt chân lên vùng đất rừng nguyên sinh này:

Đi bộ trekking 5 km vượt rừng

Bàu Sấu cách trung tâm Nam Cát Tiên 15 km, du khách phải đi xe 10 km đường rừng chính, sau đó phải vượt bộ 5 km nữa theo con đường mòn ẩm ướt dẫn vào sâu trong rừng thẩm. Con đường mòn rất nhỏ với chi chít các phiến đá vôi lớn nhỏ phủ đầy rêu xanh và lá cây. Con đường có lúc quanh co, uốn lượn, lúc lên dốc, lúc chuỗi sâu thẳm; ẩn nấp đâu đó dưới tán cây hay bám vào chân du khách là các loài côn trùng, loài vắt,…Vừa đi bộ trải nghiệm đường rừng, du khách còn có cơ hội khám phá hệ động thực vật sinh thái đa dạng của khu rừng nguyên sinh này.

Khám vẻ vẻ đẹp hùng vĩ của cây tùng đại thụ

< Vẻ đẹp hùng vĩ và độc đáo của cây tùng đại thụ.

Theo lối mòn đường rừng dài 5 km, du khách có thể khám phá và tận mắt chứng kiến vẻ đẹp kỳ bí và độc đáo của cây Tùng đại thụ. Thân cây to lớn đến nỗi khoảng 15 người ôm mới hết. Cây Tùng độc đáo ở chỗ cái rễ khổng lồ của nó, rễ to lớn và kéo dài ra một vùng đất rộng lớn hàng chục mét. Du khách có dịp chiêm ngưỡng, tìm hiểu và chụp ảnh lưu niệm với những thân cây đại thụ có một không hai này.

Ngắm toàn cảnh Bàu Sấu

Đến Bàu Sấu, du khách không khỏi ấn tượng và bị cuốn hút bởi vẻ đẹp trữ tình và nên thơ của khu vực đầm lầy Ramsar thứ hai của Việt Nam. Để có cái nhìn toàn cảnh khu vực Bàu Sấu, du khách nên ngắm cảnh từ Nhà Kiểm Lâm, khi đó du khách không chỉ thưởng ngọn khung cảnh tuyệt vời mà còn ghi lại những khoảnh khắc đẹp bên chiếc máy ảnh du lịch của mình.

< Chèo thuyền trên đầm ngắm vương quốc cá sấu.

Những cánh rừng nguyên sinh bao bọc khu đầm lầy, những làn hoa lục bình tím cả một vùng hòa quyện với vùng nước trong xanh cùng với những đàn bướm đa sắc tạo nên bức tranh thủy mặc non nước hữu tình hấp dẫn mọi du khách.

Chèo thuyền ngắm vương quốc cá sấu

Chèo thuyền trên đầm để ngắm đàn cá sấu thong dong bơi lội trong khu vực Bàu Sấu là một trong những cảm giác thú vị nhất mà du khách nên thực hiện một lần khi đến đây. Mỗi một chiếc thuyền chở tối đa ba người, người lái sẽ đưa du khách len lỏi qua từng khu đầm lầy, tiến sát khu vực rừng nguyên sinh hay tung tăng trên mặt nước chứng kiến tận mắt vương quốc cá sấu bôi lội trong khu dân cư của mình. Ngồi trên thuyền, du khách sẽ cảm thấy rất thư thái trước khung cảnh thoáng đãng, bình yên, có thể hòa mình vào không gian tĩnh lặng, du dương trong tai tiếng nhạc rừng âm vang của ve gọi hè.

Hiện nay Việt Nam có 6 khu Ramsar, bao gồm Vườn quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Nam Định), Bàu Sấu, Vườn quốc gia Cát Tiên (tỉnh Đồng Nai), Hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Cạn), Vườn quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp), Vườn quốc gia Mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau), Vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu).

Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng đất ngập nước và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng.

Theo Xuân Lộc (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

Rừng nguyên sinh Đá Nản

(TQO) - Một ngày cuối tháng 3, chúng tôi có dịp theo chân đoàn cán bộ kiểm lâm Yên Sơn đến thăm mô hình bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn tại thôn Khuổi Bốc, xã Trung Minh.

Lên với Đá Nản

Hai tiếng đồng hồ ngồi trên chiếc xe uoát trên con đường cua, xóc, gập ghềnh từ huyện lỵ vào đến thôn, ai cũng thấm mệt. Song khi nghe Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoàng Văn Kiên cho biết, khu rừng nghiến trăm tuổi và những thảm thực vật phong phú ở đây không kém gì rừng quốc gia Cúc Phương, ai cũng háo hức muốn leo rừng, tận mắt chứng kiến khu rừng nguyên sinh kỳ thú này.

Khuổi Bốc là một trong những thôn đặc biệt khó khăn của xã Trung Minh. Thôn có 43 hộ đồng bào dân tộc Dao, Mông thì có 27 hộ thuộc diện nghèo (chiếm 62%). Tuy nhiên, điều thật đáng trân trọng là không một ai xâm phạm đến rừng vì lợi ích mưu sinh.

Dẫn chúng tôi lên khu rừng già Đá Nản, ông Lý Văn Cam, Bí thư chi bộ, thành viên tổ quản lý, bảo vệ khu rừng nguyên sinh chỉ cho chúng tôi xem một chiếc ao cách khu rừng Đá Nản chừng 200 mét, ông bảo đó là ao Tiên.

Chiếc ao Tiên này đã tồn tại từ bao đời nay cùng với khu rừng. Ao rộng chừng 5 sào, hình tròn, nước trong xanh bốn mùa, không bao giờ cạn. Ông Cam bảo, các thế hệ đồng bào ta ở đây truyền nhau kể lại rằng, đã có người nhìn thấy Tiên bay trên đỉnh núi Đá Nản, rồi sà suống ao tắm, nên mới đặt tên là ao Tiên. Đời sau, có một số người không tin chuyện ngày xưa, tháo cạn nước ao đi để bắt cá, trồng cây, nhưng không thu được gì mà còn bị lụi bại vì bệnh tật, ốm đau. Các cụ già mách, đắp lại ao như cũ để trả cho Tiên chỗ tắm. Mấy người vội làm theo. Thật kỳ lạ mấy ngày sau mưa xối xả, khi ao đầy nước cũng là lúc người nọ khỏi bệnh. Từ đấy, không một ai dám động đến ao Tiên. Ngày đầu năm hoặc cuối năm, dân trong bản lại bảo nhau góp gạo nấu xôi, mổ con gà trống đem ra ao cúng, cầu thần tiên ban cho mưa thuận gió hoà, phù hộ cho dân làng được yên vui, no ấm.

Qua ao Tiên, đến cửa rừng, chúng tôi bắt gặp một tảng đá to, có hình thù như một tấm bình phong che chắn cho khu rừng. Đoàn bám sát nhau leo lên đến độ cao trên 100 mét thì tới rừng nghiến. Quang cảnh đập vào mắt mọi người là một dãy hơn chục cây nghiến mọc hàng ngang gần như thẳng tắp, cây nào cũng có đường kính trên 1 mét. Có lẽ, những cây nghiến cổ thụ này đã phải chắt chiu chất đất, vật lộn với gió bão hàng mấy trăm năm mới sinh tồn hiên ngang được đến ngày nay. Cùng với nghiến là các loài cây gỗ khác như trai, chò, kẹn, phay, sấu, vẩy ốc cũng có đường kính trên dưới 1 mét. Dưới chân là từng lớp thảm lá mục dày tới vài chục phân, nhưng tuyệt nhiên không có một con vắt hay con muỗi nào.

Cán bộ kiểm lâm giải thích, bây giờ chưa vào mùa mưa nên chưa có muỗi và vắt, tuy nhiên, đây là khu rừng trên núi đá vôi, chủ yếu là các loài cây gỗ lớn sinh trưởng nên rừng thoáng mát, khô ráo nên mùa mưa cũng rất ít muỗi, vắt. Chúng tôi tiếp tục trèo lên đỉnh rừng, phóng tầm mắt nhìn xuống thấy bản làng dưới những tán cây rừng, xen lẫn trong ngàn hoa rừng là hoa chuối đỏ trông thật thích mắt. Anh Kiên cho biết thêm, khu rừng nguyên sinh này rộng trên 650 ha, trong đó có nhiều khoảnh toàn gỗ quý như nghiến, trai. Đây cũng là khu rừng nguyên sinh giàu các loài cây gỗ quý nhất huyện. Ngoài ra, trong rừng vẫn còn nhiều loài động vật như kỳ đà, rùa đá, tắc kè, trăn, rắn, chim rừng, gà rừng cùng nhiều loài thảo dược quý hiếm khác.

Trách nhiệm cộng đồng

Tháng 3-2008, Hạt Kiểm lâm huyện chính thức triển khai mô hình bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cộng đồng thôn bản theo dự án RIDP, giao cho dân bản thực hiện nhằm bảo đảm nguồn nước cho sản xuất, môi sinh, đời sống và quan trọng nhất là bảo vệ bằng được diện tích rừng hiện có. Dân bản được hưởng lợi từ nguồn lâm sản phụ dưới tán rừng phòng hộ, tận thu những cây chết hoặc cây gẫy, đổ do thiên tai gây ra. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của cả cộng đồng, tuy nhiên nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng được giao cho 4 thành viên của tổ quản lý, bảo vệ, là những người có trách nhiệm, sức khoẻ, uy tín nhất do dân bản bầu ra.

Cứ một tuần hai lần, tổ bảo vệ lại cùng nhau mang theo biđông nước và cơm nắm đi tuần rừng nhằm phát hiện, xử lý kịp thời những dấu hiệu xâm phạm rừng. Để đi khắp khu rừng này phải mất một ngày ròng không nghỉ. Ai cũng thuộc nằm lòng vị trí từng cây nghiến, cây trai cổ thụ. Tuy nhiên, tròn một năm đã trôi qua, dường như chưa một ai động đến nguồn lâm sản phụ cũng như tận thu các cành, cây chết, gẫy, đổ ở rừng. Nhưng, không vì thế mà tổ lơ là, xao nhãng nhiệm vụ được giao, dù tiền công tuần rừng chỉ có 100.000 đồng/người/tháng. Mỗi cây nghiến cổ thụ trên núi đá này có trị giá hàng trăm triệu đồng, cả khu rừng nghiến, trai quý trị giá nhiều tỷ đồng vẫn vẹn nguyên. Bởi một điều thật đơn giản, nhưng thiêng liêng, đó là khu rừng đã tồn tại, che chắn, bảo vệ bao thế hệ người nơi đây, là tài sản quốc gia.

Cụ Triệu Văn Tài, năm nay gần 80 tuổi đời, cụ đã được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng rưng rưng xúc động mỗi khi kể về rừng. Cụ nói: "Rừng che chở cho bản làng, rừng thiêng lắm! Bản chưa một lần bị lũ ống, lũ quét tàn phá cũng nhờ có rừng. Bản bốn mùa có nước trong mát, khí hậu trong lành, người người khoẻ mạnh cũng nhờ rừng". Bởi vậy, cụ và các lớp con cháu ở đây quyết tâm bảo vệ rừng đến cùng. Các cán bộ kiểm lâm huyện cũng luôn sát cánh cùng bà con cùng nhau bảo vệ nguồn tài sản quý của quốc gia.

“Không thể bảo vệ rừng nếu không có sức mạnh cộng đồng” - Hạt phó Kiểm lâm Hoàng Văn Kiên khẳng định. Nhưng ở đây vẫn tồn tại một nghịch lý: Rừng giàu - dân nghèo. Nguyên nhân do bà con có quá ít đất sản xuất. Bao đời nay bà con vẫn sống bằng cây ngô, cây sắn trồng trên những khu đất đồi thấp, còn đất ruộng có quá ít, không đáng kể. Thôn đã vận động bà con tăng cường phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, song kinh tế của bà con hầu hết vẫn là tự cung tự cấp, chưa có sản phẩm hàng hoá.

Để bà con thoát nghèo, làm giàu từ rừng, ngay trong tháng 4 này, Hạt Kiểm lâm huyện triển khai phát cây giống, hướng dẫn bà con trồng rừng keo, mỡ trên 36 ha đất vườn đồi; đề nghị trợ cấp gạo cho bà con mỗi người 10 kg/tháng theo chương trình trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi thay thế nương rẫy của Chính phủ. Được biết, nguồn cây giống chỉ hỗ trợ cho gia đình nào có diện tích trồng rừng từ 0,5 ha trở lên; còn chương trình hỗ trợ gạo UBND tỉnh đang xem xét. Mong rằng, các chương trình trên sớm được triển khai để người dân nơi đây được hưởng lợi từ rừng một cách xứng đáng.

Theo Thèn Hương (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Khu di tích rừng Trần Hưng Đạo

(BCB) - Đến với Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo chúng ta không những được tìm hiểu truyền thống lịch sử với nhiều điểm di tích mà còn được khám phá, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu rừng nguyên sinh.

< Chụp ảnh lưu niệm tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo phân bố trên địa bàn 2 xã Tam Kim, Hoa Thám (Nguyên Bình), là trung tâm hệ thống các di tích lịch sử cách mạng liên quan đến sự kiện thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (VNTTGPQ), bao gồm 5 điểm di tích: Di tích Khu rừng Trần Hưng Đạo; hang Thẳm Khẩu; đồn Phai Khắt; Vạ Phá, xã Tam Kim và  di tích đồn Nà Ngần, xã Hoa Thám.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo nơi lưu trữ những địa danh, hiện vật gắn liền với giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng, có giá trị lịch sử đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam; gắn liền với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc đời hoạt động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Là nơi chứng kiến ngày thành lập Đội và diễn biến hai trận đánh đầu tiên đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần.

Rừng Trần Hưng Đạo là một khu rừng nguyên sinh, diện tích 201,7 ha. Khu rừng có 4 điểm di tích: Địa điểm thành lập Đội VNTTGPQ (22/12/1944); lán nghỉ và bếp ăn của Đội VNTTGPQ; mỏ nước phục vụ nước sinh hoạt cho Đội VNTTGPQ; Đỉnh Slam Cao - nơi đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban chỉ huy Đội VNTTGPQ đặt trạm quan sát.

Đến với khu rừng Trần Hưng Đạo, hình ảnh đầu tiên là bức phù điêu 34 chiến sỹ trong buổi lễ thành lập Đội VNTTGPQ. Trước bức phù điêu có 1 khoảng sân nhỏ lát đá, các đoàn khách về nguồn thường làm lễ báo công tại đây. Từ bức Phù điêu 34 chiến sỹ đi theo con đường bê tông với những bậc cao dần, hai bên là những cây cổ thụ cao rợp bóng; đi khoảng 200 m đến ngã ba rẽ phải xuống khoảng 10 bậc là khu đất bằng nơi ghi dấu sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ.

< Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng).

Đến đây, chúng ta không khỏi xúc động khi bắt gặp hình ảnh cây sau sau già, nơi giương cao lá cờ đỏ sao vàng chứng kiến sự ra đời của Đội VNTTGPQ. Tại địa điểm này, năm 1994 đã dựng một nhà Bia trung tâm. Vị trí trung tâm đặt bia ghi dấu sự kiện, 4 mặt bia chữ vàng khắc toàn văn bản Chỉ thị thành lập Đội VNTTGPQ; 10 lời thề danh dự do đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc trong lễ tuyên thệ (sau này trở thành lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam); danh sách 34 chiến sỹ.

Nằm cách nhà bia trung tâm khoảng 30m, con đường với những hàng cây cổ thụ rợp bóng đưa chúng ta đến địa điểm 2 dãy nhà nghỉ - bếp ăn được cải tạo xây dựng, mô phỏng lán nghỉ của Đội VNTTGPQ. Đối diện lán nghỉ là dãy nhà bếp ăn của Đội VNTTGPQ, đến đây chúng ta sẽ được nghe kể về bữa ăn đạm bạc trong buổi đầu thành lập Đội, thể hiện tinh thần quyết tâm, ý chí chiến đấu đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Từ khu lán nghỉ - bếp ăn theo con đường nhỏ xuống khoảng 50m chúng ta nhìn thấy một mỏ nước, nơi lấy nước sinh hoạt của Đội VNTTGPQ. Tại đây xung quanh vẫn còn những cây sấu cổ thụ  Đội VNTTGPQ đã dùng lá và quả để phục vụ sinh hoạt hằng ngày.

Từ nhà bia trung tâm,  tiếp tục chinh phục những bậc đá cao dần, qua 505 bậc chúng ta đến đỉnh Slam Cao, cao nhất của núi Dền Sinh. Từ đây có thể quan sát các hướng, nhìn thấy đồn Phai Khắt, làng Phai Khắt, núi Thẳm Khẩu, đồn Nà Ngần, đồn Benle bên đường số 3B trên đường đến đèo Cao Bắc, nên đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban chỉ huy Đội đã nghiên cứu đặt trạm quan sát. Tại đây, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp quan sát để đưa ra các phương án đánh đồn Phai Khắt. Ngoài ra, đây còn là khuôn viên dành cho du khách nghỉ chân để tận hưởng không khí trong lành với những cơn gió lộng để quên hết những mệt mỏi sau khi chinh phục được đỉnh núi.

< Đỉnh Slam cao, ngày xưa là chốt canh gác của Đội VNTTGPQ trong rừng Trần Hưng Đạo.

Sau khi chinh phục đỉnh Slam Cao, chúng ta quay trở lại làng phai Khắt, từ trung tâm làng Phai Khắt theo đường mòn đi bộ khoảng 500m đến hang Thẳm Khẩu. Ở lưng chừng núi, hang Thẳm Khẩu sâu khoảng 03 m, dài khoảng 12m, có thể trú được khoảng 40 người. Hang khô, thoáng, trong hang có nhiều mô đá nhỏ gồ ghề, địa điểm này rất bí mật, thuận lợi cho việc quan sát và nhận thông tin liên lạc. Bên phải hang có một phiến đá to, tương đối bằng phẳng, được sử dụng làm bàn để vẽ sơ đồ chuẩn bị đánh Đồn Phai Khắt, Nà Ngần.

Trong giai đoạn năm 1941 - 1944, hang Thẳm Khẩu được sử dụng làm trạm liên lạc, đưa cơm phục vụ cho các đồng chí hoạt động cách mạng, đặc biệt là nơi tập trung của Đội VNTTGPQ vào ngày 24/12/1944 để chuẩn bị đánh Đồn Phai Khắt.

< Chiều  22/12/1944 34 đội viên VNTTGPQ đã ăn một bữa cơm chiều trước khi vào trận đánh đồn Phai Khắt.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng trần Hưng Đạo còn hai địa điểm ghi dấu chiến công oanh liệt, mưu trí đầu tiên của Đội ngay sau ngày thành lập. Đó là Đồn Phai Khắt, xã Tam Kim và Đồn Nà Ngần, xã Hoa Thám.

Đồn Phai Khắt là nơi chứng kiến trận đầu ra quân của Đội VNTTGPQ (25/12/1944). Đồn là nhà của đồng chí Nông Văn Lạc được xây dựng từ năm 1940. Từ đây có 3 đường đi các ngả, về phía Nam đi Ngân Sơn (Bắc Kạn), về phía Đông Bắc đi Nà Ngần và một con đường độc đạo ra châu lỵ Nguyên Bình. Năm 1943, thực dân Pháp đã chiếm nhà của đồng chí Nông Văn Lạc để làm đồn. Hiện nay, Đồn Phai Khắt đã được tu sửa trở thành Nhà trưng bày bổ sung của khu di tích. Nơi đây có trưng bày hình ảnh, hiện vật tái hiện buổi lễ thành lập Đội VNTTGPQ.

Từ trung tâm làng Phai Khắt rẽ trái theo đường ô tô liên xã (Tam Kim - Hoa Thám) khoảng 20 km chúng ta đến di tích Đồn Nà Ngần.

Đồn Nà Ngần thuộc xã Cẩm Lý, nay là xã Hoa Thám (Nguyên Bình), là nơi ghi dấu trận đánh thứ 2 giành thắng lợi của Đội VNTTGPQ (26/12/1944). Đồn Nà Ngần nằm trên một đồi cao, địa thế hiểm trở, từ ngoài vào phải qua mấy thung lũng. Địch chọn nhà của ông Nông Văn Pảo (tức Phó Lý Pảo) làm một đồn lính. Nhà của Phó Lý Pảo là ngôi nhà sàn kiên cố nhất trong bản, có hàng rào kín mấy lớp xung quanh.

Hiện nay ngôi nhà cũ không còn, chỉ còn bãi đất hoang nhân dân sử dụng trồng hoa màu. Địa điểm đồn Nà Ngần đã dựng nhà bia ghi dấu chiến công oanh liệt của Đội.

Di tích Vạ Phá thuộc xóm Bản Um, xã Tam Kim là một thung lũng rộng tương đối bằng phẳng ngay chân đồi Slam Khẩu, phía trước có thể nhìn thấy cánh đồng Bản Um và đường vào khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo, phía sau là đồi Slam Khẩu xuống xã Thượng Ân (Ngân Sơn, Bắc Kạn). Là nơi kín đáo, xa dân. Tại đây Tổng bộ Việt Minh Cao Bằng đã mở lớp huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho toàn tỉnh do các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng phụ trách vào tháng 2/1944. Lớp huấn luyện quân sự là bước chuẩn bị về lực lượng, góp phần tích cực vào việc thành lập Đội VNTTGPQ. Hiện nay, Vạ Phá còn dấu tích lán trại của lớp học quân sự, tại đó vẫn còn những hòn đá cuội để kê chân giường.

Đến với Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo chúng ta không những được tìm hiểu truyền thống lịch sử với nhiều điểm di tích mà còn được khám phá, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu rừng nguyên sinh. Nơi đây vẫn giữ được vẻ hoang sơ, khí hậu mát mẻ quanh năm, thu hút hàng ngàn khách du khách trong và ngoài nước đến tham quan di tích lịch sử, thưởng ngoạn thắng cảnh và du lịch sinh thái đầy thú vị và ý nghĩa.

Di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo ngày càng được quan tâm đầu tư tôn tạo và phát huy giá trị. Hiện nay, Bộ Quốc phòng đang tôn tạo một số hạng mục trong khu di tích.

Theo Hoàng Lệ (báo Cao Bằng)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Khám phá tử địa Đồng Tháp Mười

Không một phương tiện chiến tranh nào có thể vào đến vùng đất được xem là tử địa này bởi bao nhiêu trực thăng, xe tăng, binh lính đến đây đều gặp thiệt hại nặng nề và phải bỏ chạy để giữ thân. Nghe đến vùng đất có vẻ bí mật này, chúng tôi thực hiện một chuyến đi ngắn về nguồn để khám phá…

Người dẫn đoàn giữ bí mật, không tiết lộ điểm đến là đâu, mà chỉ nói đó là một khu căn cứ cách mạng giai đoạn 1960-1975 ngay tại vùng Đồng Tháp Mười thuộc đất Đồng Tháp. Xuất phát từ Cần Thơ, chúng tôi băng đường đồng sang thị xã Sa Đéc để tranh thủ ghé lại làng trồng hoa truyền thống gần một thế kỷ và nhà cổ Huỳnh Thủy Lê- ngôi nhà cổ nổi tiếng bởi liên quan đến chuyện tình không biên giới trong tiểu thuyết "Người tình" của nhà văn Pháp Marguerite Duras. Sau đó, chúng tôi qua phà Miễu Trắng- lối đi tắt ngang sông Tiền - để đến vùng tử địa của Đồng Tháp Mười.

Qua phà, chúng tôi trực chỉ con đường nhựa mới toanh, phẳng phiu rồi đi tiếp con đường làng đầy bờ sen ruộng lúa. Trước mắt chúng tôi là khu du lịch Xẻo Quýt.

Thắc mắc vẫn chưa được giải đáp bởi lẽ các khu căn cứ đều gần giống nhau. Đâu cũng có hầm công sự, những mái nhà lá dùng làm nơi ở và làm việc, bếp nấu không khói…
Thế thì có gì là bí mật? "Nhưng có đấy!"-hướng dẫn viên của đoàn vẫn giữ bí mật đến phút cuối.

Ngồi trên xuồng ba lá, lách mình trên con rạch uốn khúc quanh khu di tích, chúng tôi không giấu nổi vẻ phấn khích bởi tò mò. Bao nhiêu là câu hỏi về tử địa của vùng này được đặt ra với cô gái chèo xuồng đội chiếc nón tai bèo và mặc bộ bà ba đen theo kiểu giao liên ngày xưa. Cô gái vẫn từ tốn: "Trước hết, quý khách cứ thưởng thức phong cảnh và hít thở không khí trong lành. Chút nữa, đoàn mình sẽ đi ngang bãi tử địa".

Chúng tôi đành ngồi yên trên xuồng, lách mình qua rừng tràm. Những thân tràm to hơn một vòng tay ôm, mọc tự nhiên không theo hàng lối. Để giữ nguyên rừng tràm, con đường phải uốn lượn theo cây cối. Càng đi sâu, thảm thực vật càng dày đặc. Dây bòng bong xoắn xuýt mọc thành từng thảm lớn, giăng từ cây này sang cây khác, tạo nên những mảng xanh lớn, phủ kín cả khu rừng.

< Bãi ngù là sự sáng tạo rất đơn giản của các chiến sĩ nhưng đầy bí hiểm làm đối phương khiếp sợ.

Xuồng cứ lách mình trôi mãi. Có những khúc ngoặt, khách phải dùng tay kéo đám cỏ hoặc cành cây để đưa xuồng về phía trước vì không chèo được. Khu rừng khá tĩnh mịch nên khi có xuồng chèo đến cũng làm đàn chim giật mình, bay tứ tán. Đang mơ màng chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy thơ mộng của con rạch, rừng tràm và những mảng xanh, bỗng cô gái chèo xuồng bảo: "Phía trước là bãi tử địa mà quý khách tìm!". Nghe vậy, nhiều người đứng phắt dậy, định nhảy lên bờ để tận mắt nhìn thấy vùng tử địa, khiến xuồng cứ không thôi chòng chành.

< Dây bòng bong giăng kín lối đi, tạo những mảng xanh huyền bí trong rừng tràm Xẻo Quýt.

Tử địa chính là bãi ngù. Đó là một bãi đất trống, chỉ có cỏ dại, không có cây to. Trong điều kiện thiếu thốn về vũ khí, phương tiện, các chiến sĩ san phẳng một vùng rộng lớn xung quanh khu căn cứ, để cắm những cây ngù được làm từ cọc tràm hoặc thân cây, cao chừng 1,5 mét. Trên ngọn ngù cột một chùm lá chuối khô hoặc rơm, bên trong cài lựu đạn. Khi địch đổ bộ bằng trực thăng, xe tăng, những cây ngù sẽ phát nổ, gây thương vong. Các chiến sĩ ta thừa thắng xông lên, tạo ra những bãi ngù rộng lớn hơn. Nhờ bãi ngù này, khu căn cứ Xẻo Quýt không bị địch càn quét.

Sau khi kết thúc vòng tham quan bằng xuồng ba lá, chúng tôi lại cuốc bộ vào rừng để khám phá tiếp. Vòng vèo vài cây số xuyên rừng tràm, chúng tôi đến tháp canh cao khoảng 10 mét. Trèo lên đỉnh tháp, toàn cảnh bãi ngù hiện ra trước mắt. Trên cánh đồng cỏ như một thảo nguyên xanh um là những cây ngù mọc lên san sát. Trong gian khó, thiếu thốn, các chiến sĩ ta đã sáng tạo ra phương pháp đánh vào tâm lý của đối phương để chiến thắng khi không có sự cân sức về vũ khí, đạn dược.

Sau khi thỏa sức khám phá vùng tử địa, chúng tôi trở lại điểm dừng chân của khu di tích để thưởng lãm một Đồng Tháp Mười thu nhỏ với những ruộng sen hồng, cầu khỉ, cầu dừa và trải nghiệm đời sống dân dã của người dân miền sen này.

Môi trường sinh thái ở Khu di tích lịch sử Xẻo Quýt rất đa dạng. Đó là khu rừng tràm lâu năm xen lẫn với khoảng 170 loài thực vật khác, như: gáo, sậy, trâm bầu, sen, súng... Trong 75 ha của khu di tích, có khoảng 20 ha rừng tràm nguyên sinh. Có những cây từ thời lập căn cứ Xẻo Quýt vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn. Ngoài ra, Xẻo Quýt còn có khoảng 200 loài động vật hoang dã. Trong đó, có 13 loài quý hiếm được ghi vào Sách đỏ Việt Nam, như: trăn mốc, rắn hổ trâu, rùa hộp, rái cá, chim sả mỏ rộng…

Theo Thanh Nhàn (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Về với Xẻo Quýt

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Làng nổi Tân Lập

(BCT) - Làng nổi Tân Lập – một địa danh không phổ biến lắm trên bản đồ du lịch – nằm trên đất Đồng Tháp Mười, thuộc tỉnh Long An. Vùng đất lạ ngay trong lòng đồng bằng Nam bộ này thu hút khách bởi rừng bạt ngàn và thiên nhiên hoang dã.

Làng nổi Tân Lập nằm ở vùng Kiến Tường - Mộc Hóa, thuộc tỉnh Long An, sát với biên giới Campuchia, có dòng sông Vàm Cỏ Tây đi ngang trước khi hợp nhánh vào sông Vàm Cỏ đổ ra biển. Nghe địa danh này, người ta nghĩ ngay đến một vùng đất xa xôi bạt ngàn rừng tràm và những sân chim rộng lớn. Đồng Tháp Mười cùng với vùng tứ giác Long Xuyên là hai vùng trũng, hai túi trữ nước khổng lồ cho cả vùng ĐBSCL, tạo nên hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Tên là Đồng Tháp Mười nhưng diện tích phân bổ có đến 80% nằm trên đất Long An, còn lại nằm trên đất Đồng Tháp.

Làng nổi Tân Lập cách cửa khẩu Bình Hiệp khoảng 5 cây số, nay đã được xây dựng khang trang nên dễ dàng nhận diện khi đi ngang qua. Gần đây, địa phương đầu tư phát triển cho khu du lịch, tạo điểm đến đặc trưng và độc đáo, tạo sự phong phú cho sản phẩm du lịch ở Tân Lập. Đến nơi, chúng tôi trả 120.000 đồng cho một chuyến xuồng vào rừng.
Có hai lựa chọn là xuồng chèo và vỏ lãi. Xuồng xuôi dòng theo Rạch Rừng đi qua những trảng sen, trảng súng trước khi đến bến cạnh một tháp canh cao gần 40 mét. Rạch có rất nhiều cá nên chim cò, cồng cộc… tụ về đây rất nhiều để tìm thức ăn. Trên đường đi, người chèo xuồng kiêm luôn hướng dẫn, giải thích tận tình, tỉ mỉ về địa danh cũng như căn dặn việc bảo vệ môi trường, tránh làm tổn thương hệ sinh thái.

Do đây là rừng tràm quanh năm ngập nước nên đường bê tông được xây dựng trên mặt nước đi xuyên qua những cánh rừng tràm xanh mướt. Khu du lịch được xây dựng tại khu bảo tồn rộng 635 ha; trong đó, có khoảng 500 ha vùng đệm. Tràm được bảo vệ và trồng thêm suốt hơn 10 năm nay tạo nên một mảng xanh mênh mông nổi lên giữa đồng bằng. Vào mùa nước nổi, đồng ruộng xung quanh ngập chìm trong nước. Đứng trên cao nhìn xuống, làng nổi Tân Lập như chiếc bè xanh khổng lồ nổi bập bềnh hay như một hòn đảo xanh thẳm giữa biển nước. Nhưng đó không phải là xuất xứ của tên làng nổi.

Theo giải thích của người dân địa phương, từ lâu vùng này quanh năm ngập nước nên cư dân đã quen “sống chung với lũ”, xây dựng nhà trên những cọc gỗ cao lêu khêu. Ngày nay, trong khu du lịch không còn cư dân sinh sống. Khi phát triển du lịch, trong đề án xây dựng làng nổi, địa phương cho phục dựng lại những ngôi nhà này. Hiện nay, nhà “cao cẳng” chỉ mới được xây dựng ở khu đón tiếp chứ chưa được xây dựng trong rừng. Trong tương lai, khu du lịch này có đến 11 khu chức năng làm nơi di trú cho động vật hoang dã, bảo tồn tự nhiên, khu vực giáo dục môi trường…

Đến làng nổi Tân Lập, điều thú vị là được đi trong rừng tràm xanh thẳm với mênh mông là tràm. Con đường uốn quanh cũng lẩn khuất trong màu xanh bạt ngàn ấy. Thỉnh thoảng đi đến đầu con mương, du khách được nhìn thấy hai vạt rừng tràm song song chạy dài đến huốt tầm mắt. Bóng tràm, bóng mây in trên mặt nước tạo một bức tranh lung linh hoàn mỹ, khó phân biệt đâu là hư, đâu là thực. Theo lối dẫn của con đường quanh co ấy, du khách đi hết vạt rừng này đến vạt rừng khác.

Đi mải miết mới tới được tháp canh cao 18 mét nằm chơi vơi giữa trời. Lên tháp canh này, du khách chỉ nhìn thấy được một phần của rừng tràm. Muốn nhìn được toàn cảnh, phải lên tháp canh cao 38 mét. Những tháp canh này vừa là nơi để canh lửa, định hướng vùng cháy để kịp thời chữa cháy hiệu quả, vừa là nơi để du khách phóng xa tầm mắt, thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên của rừng tràm. Cũng từ vị trí này, mỗi sáng, mỗi chiều, du khách sẽ chứng kiến từng đàn cò trắng muốt, từng đàn cồng cộc đen huyền có đến vài trăm con bay về một phía rừng. Đó là lúc chúng túa ra đi tìm thức ăn hoặc trở về sau một ngày lặn lội.

Làng nổi Tân Lập khá yên tĩnh, thích hợp cho du khách nghỉ dưỡng, trải nghiệm cuộc sống gần gũi với thiên nhiên hoang dã và giáo dục cho trẻ con biết yêu quý thiên nhiên, ý thức bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước còn sót lại. Dịch vụ lưu trú chưa được khai thác nên du khách có thể mang theo lều trại để nghỉ lại tại khu du lịch hoặc ở nhà nghỉ, khách sạn tại thị xã Kiến Tường, cách đó khoảng 5km. Giá cả ở đây khá bình dân. Bình quân mỗi người nghỉ đêm chỉ khoảng 50.000 - 60.000 đồng, phòng có máy lạnh và nước nóng. Người dân còn giữ nét quê chân chất, rất nhiệt tình và hiếu khách.

Theo Thanh Nhàn (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!