Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Xuân về trên những chân ruộng bậc thang

(ANTĐ) - Mù Cang Chải vào mùa thu tháng 8-9 là đẹp nhất, du khách sẽ được thu vào tầm mắt những triền ruộng bậc thang vào mùa thu hoạch, lúa chín cả con đường quốc lộ nhuộm màu vàng óng ả, nhấp nhô sóng biển, bát ngát, mênh mông, vừa hùng tráng, vừa mỹ lệ hấp dẫn như một bức tranh về cuộc sống ấm no, hạnh phúc như mơ, như thực của đồng bào người Mông, vùng cao tỉnh Yên Bái.

Những người mê chụp ảnh lại thích ngắm Mù Cang Chải khi mùa xuân về. Xe máy phân khối lớn chạy dọc quốc lộ 32, chúng tôi đã “chộp” được những bức ảnh miêu tả sinh hoạt đời thường, bình dị quen thuộc của những cụ già người Mông.

Đó là cảnh các bà ngồi sưởi dưới ánh nắng xuân ấm áp, trang phục dân tộc ngày tết đẹp sặc sỡ, khuôn mặt nhăn nheo, miệng móm mém cười duyên, chuyện trò râm ran hồ hởi, trên nền những cánh đồng ruộng bậc thang, bạt ngàn hoa đào, hoa ban khoe sắc thắm.

Năm 2007, ruộng bậc thang Mù Cang Chải được Nhà nước công nhận là Danh thắng quốc gia. Người Mù Cang Chải, từ già đến trẻ rất tự hào, có ý thức giữ gìn báu vật di sản. Cũng nhờ có danh thắng độc đáo vào loại bậc nhất Việt Nam này mà khách du lịch trong và ngoài nước đổ về vùng đất mịt mù xa xăm mà vài chục năm trước còn hoang vắng.

Miền núi, tối ập đến rất nhanh. Đêm đầu xuân chúng tôi nghỉ tại nhà ông Lường Văn Dương, bản Thái Kim Nội. Ông Dương đã 72 tuổi, mặt hiền hậu, phong thái khoan thai lịch lãm, nói chuyện nhỏ nhẹ. Nhà ông là nơi cho thuê khách trú, chỉ 80 nghìn đồng/người/đêm. Trong nhà ông đông đúc đủ cả khách tây lẫn ta, cùng quây quần ngồi quanh mâm cỗ ngày tết… Cả nhà ông Dương, các con cháu đều biết làm du lịch. Cơ sở lưu trú nhà ông chưa phải là khách sạn, những cũng được đầu tư khá bài bản. Ông cho biết phải đầu tư như vậy mới đáp ứng nhu cầu của khách dưới xuôi lên và khách Tây nữa.

Đêm Mù Cang Chải se lạnh. Cái lạnh từ núi tỏa ra cứ từ từ len lỏi qua khe áo, thấm vào da thịt. Ông Dương cùng mấy bạn già chúng tôi ít ngủ, ngồi quanh bếp lửa hồng nhâm nhi ly rượu thuốc nhắm với thịt trâu khố nướng trên bếp than thơm lừng.

Con gà đã gáy sáng, cánh Tây “ ba lô” háo hức dậy ăn sáng. Bữa sáng là ngô luộc, sắn “lùi” chấm vừng. Họ ăn ngon miệng rồi kéo lên đỉnh Khau Mạ, nơi có Câu lạc bộ Dù lượn Vietwings Hà Nội, thuộc CLB Hàng không phía Bắc chọn làm bãi tập luyện, thực hiện chương trình “Bay trên thảm lúa” ngày xuân.

“Đường lên Tây Bắc quanh co, nếp nhà sàn thấp thoáng…”, chúng tôi hát vang “Bài ca đi cùng năm tháng” để nhớ về một thời “Tây Tiến”… Quá trưa, chúng tôi về đến thị trấn Nghĩa Lộ, được ăn bữa cơm lam tại nhà sàn, thưởng thức xòe Thái. Nhìn các cô gái Thái, Mường, Lò duyên dáng trong trang phục dân tộc, tươi tắn với những điệu xòe, tôi hiểu vì sao Tây Bắc, Mù Cang Chải có sức hút ghê gớm đến thế.

Theo Lê Sĩ Tứ (An Ninh Thủ Đô)
Travel79.net

Tết của người Cao Lan

(VnExpress) - Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ, từ cối xay, cối giã gạo, cái cày, bừa cho đến bàn thờ tổ tiên.

Dân tộc Cao Lan, có tên gọi khác là Sán Chay, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận… sinh sống nhiều nhất tại Thái Nguyên với số dân hơn 60.000 người, cư trú chủ yếu ở 37 xã thuộc 3 huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên. Tết Nguyên đán của người Cao Lan, Thái Nguyên thường bắt đầu từ 25 tháng Chạp đến hết rằm tháng Giêng. Trong những ngày này, mỗi tối trước khi đi ngủ, gia chủ đều thắp một nén hương thơm lên bàn thờ để mời tổ tiên về ăn tết, đón xuân cùng con cháu.

Ngày 30 Tết là ngày mang ý nghĩa quan trọng và đặc biệt trong tín ngưỡng của người Cao Lan. Vào ngày này, người Cao Lan dậy vào lúc sáng sớm để lau dọn nhà cửa sạch sẽ, sau đó tiến hành “Chí dịt”, tục dán giấy đỏ trong nhà.

Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ. Từ cối xay, cối giã gạo, cuốc, xẻng, con dao, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại cho đến bàn thờ tổ tiên, tường, cổng nhà, các cửa ra vào… đều được dán giấy đỏ để các vật này được "nghỉ Tết". Toàn bộ ngôi nhà bỗng trở nên rực rỡ, tràn đầy sinh khí đón năm mới.

Theo quan niệm của người Cao Lan, giấy đỏ là một vật thể hiện điềm may mắn, tượng trưng cho một năm mới tốt lành, nhiều tài lộc sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống, mùa màng bội thu, giúp gia chủ xua đuổi tà ma, cây trồng không bị chim, thú, sâu bọ phá hoại.

Chiều 30 Tết, các thành viên trong gia đình tất bật chuẩn bị cho mâm cơm cúng tổ tiên và bữa cơm đoàn tụ ngày tất niên. Tuỳ theo từng dòng họ mà mâm cơm dâng lên tổ tiên ngày 30 Tết cũng có những khác biệt lớn. Những con vật linh, được xem là thuỷ tổ của dòng họ nào thì dòng họ ấy không ăn thịt mà chỉ thờ cúng. Ví dụ họ La kiêng cá quả, họ Lục, họ Lý, họ Trần kiêng thịt chó, họ Dương kiêng gà…

Người Cao Lan thường tự làm các loại bánh để ăn tết như bánh vắt vai, bánh chưng, bánh chim gâu, bánh mật, bánh gai, bánh rán, chè lam... Bánh chưng của người Cao Lan có hai loại là bánh chưng bố tròn to và bánh trưng mẹ tròn dài. Ngoài ra, người Cao Lan còn tự làm bún ăn tết. Do được làm hoàn toàn thủ công nên bún của người Cao Lan rất thơm ngon, mềm và dai.

Trong lễ hội đầu năm mới của người Cao Lan, bên cạnh các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, ném còn, trồng cây chuối, vặt rau cải, múa điệu chim gâu, xúc tép, khai xuân, biểu diễn trống sành... thì không thể thiếu làn điệu Sình ca, lối hát đối đáp giữa thanh niên nam nữ, được sáng tác theo thể thơ tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán.

Theo truyền thuyết của người Cao Lan, tác giả của bài Sình ca là nàng Lưu Ba, cô gái đẹp đã đặt lời cho các điệu hát và nàng đã hát suốt 13 ngày đêm không ăn không ngủ rồi chết. Tiếng hát ấy chứng tỏ sức sống tiềm tàng và tình yêu trong sáng, bình dị của người Cao Lan. Ngày xuân, nam thanh nữ tú hát Sình giao duyên với nhau để tìm bạn đời, các cụ ông cụ bà say sưa hát những điệu Sình cổ để thể hiện niềm vui sống.

Những nghi lễ dân gian đặc sắc của người Cao Lan với nhiều nét đẹp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và những giá trị tinh thần to lớn đã góp thêm những bông hoa đẹp vào rừng hoa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên khắp dải đất hình chữ S.

Theo Lê Thương (VnExpress)
Travel79.net

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Mảy nhương: món dân dã ngày Tết

(NLĐ) - Cứ mỗi lần tết đến, trong không khí lạnh se sắc, hoa đào e ấp trong gió lạnh, những đứa con phương xa lại mong được về nhà quây quần bên bếp lửa ấm, được ăn món Mảy nhương của vùng núi cao quê mình mà không ở nơi đâu có được.

Mảy nhương (có vùng còn gọi là “Mảy tổi” tức Măng hấp - PV) có mùi và vị cực ngon sau khi chế biến, là món ăn không thể thiếu trong thực đơn ngày Tết của gia đình những người dân tộc Tày, Nùng, Dao…, sống ở vùng núi cao phía Bắc.
Nguyên liệu chế biến Mảy nhương cầu kỳ nhất là chọn măng. Măng phải được hái từ trên rừng về cho tươi và ngon. Thêm một ít thịt ba chỉ, trứng gà, bột gạo (30% bột nếp, 70% bột gạo) và các gia vị sẵn có.

< Gọt măng để làm món Mảy nhương.

Bà Triệu Thị Thập (SN 1951, người dân tộc Tày, ngụ xã Tân Phước, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước), cho biết để làm món Mảy nhương ngon, trước tiên phải chọn những búp măng thật non vì măng non ăn rất giòn. Cắt lấy phần ngọn của búp măng dài từ 10 cm - 15 cm rồi xẻ dọc phần ngọn này, dùng tay banh miếng măng cho phẳng.

Tiếp đến, dùng dao rạch sâu nhiều đường vào miếng măng để khi quết “nhân” vào sẽ dính chặt vào những rãnh. Hoặc cũng có thể gọt lớp ngoài của phần ngọn búp măng ra thành từng lát thật mỏng, sau đó cho “nhân” vào rồi quấn lại như chiên chả giò thường thấy ở miền Nam.

< Xẻ rãnh miếng măng để quết nhân vào.

Sau khi đã rạch xong những đường trên miếng măng, đem rửa sạch, rồi luộc để loại bỏ những độc tố trong măng. Kế đến dùng bột gạo hòa với nước đun sôi, khuấy lên cho bột trở nên sền sệt rồi đổ vào phần thịt đã được băm nhuyễn cùng với trứng gà, tiêu, bột ngọt và gia vị rồi đánh lên, để làm “nhân” cho Mảy nhương.

Bà Thập lý giải, cần phải cho bột gạo vào để Mảy nhương không những giòn nhờ măng non, mà khi nhai miếng Mảy nhương, người ăn sẽ có cảm giác bùi bùi, mùi thơm của gạo – nếp, trứng…, đọng trên đầu lưỡi, và cảm giác dai dai bởi chính miếng măng cùng với nhân.

< Miếng măng đã được quết nhân vào.

Dùng muỗng quét “nhân” vào những lát măng đã luộc, ấn mạnh “nhân” vào miếng măng để thấm sâu vào những kẽ đã rạch trước đó hoặc cho nhân vào những lát măng mỏng quấn lại rồi đưa vào nồi hấp cách thủy khoảng 40 – 50 phút.

Tuy nhiên, theo bà Thập, nếu hấp cách thủy, vị ngọt và đắng từ trong măng, chất béo của “nhân” sẽ chảy xuống nồi, dẫn đến vị thơm ngon của Mảy nhương sẽ bị giảm. Vì thế người dân ở một số vùng của tỉnh Cao Bằng hay Lạng Sơn…, thường chọn cách chiên.

< Cùng gia đình ăn Mảy Nhương vừa chế biến xong.

Sau khi quết “nhân” vào miếng măng hoặc cho “nhân” vào lát măng đã thái mỏng rồi quấn lại như chả giò, đưa lên chảo chiên cho đến khi “nhân” chín, miếng măng vàng óng và mùi thơm bốc lên, thì khó mà cầm lòng nhón thử một miếng Mảy nhương trước khi đưa chúng vào đĩa, rắc thêm ít tiêu, rải ngò gai và vài lát ớt đỏ lên để trang trí cho bắt mắt.

Ngày xuân, lúc hoa nở thắm bên đồi, cũng là lúc những đứa con phương xa trở về, cùng quây quần bên nhau, nói dăm ba câu chuyện, ăn bữa cơm mà không có dĩa Mảy nhương, trong không khí đất trời đang vào xuân vẫn là chưa thấy tết.

Theo T. Tiến (Người Lao Động)
Travel79.net

Đầu xuân chinh phục đỉnh Tà Chì Nhù

Tà Chì Nhù, còn gọi là Phu Song Sung, nằm trong khối núi Pú Luông thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, nằm trên địa phận xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu (Yên Bái).

< Núi lưng ngựa.

Phu Song Sung (Fang Xong Zông) là tên một dãy núi nằm trong khối núi Pú Luông thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ ở Tây Bắc Việt Nam có đỉnh là Tà Chì Nhù cao 2.985m - hai dãy núi còn lại là Bạch Mộc Lương Tử có đỉnh cao 2.998m và dãy Phan Xi Păng có đỉnh 3.143m cao nhất Đông Dương.

< Đường lên núi khá dôc và trải qua nhiều dạng địa hình.

Ấn tượng nhất của tôi về Tà Chì Nhù là những đỉnh nối đỉnh trông như sống lưng ngựa vậy.

< Những đồi hoa dại, những khu rừng mờ sương.

Trên cao, những thảo nguyên cỏ mênh mông, những đàn ngựa hoang dã nhởn nhơ gặm cỏ rất đỗi thanh bình. Nơi đây thu hút nhiều dân nghiện chụp ảnh và những người đam mê trekking khám phá. Thời điểm đẹp nhất để leo núi chính là dưới cái nắng ấm áp đầu xuân này.

< Dựng lều trại nghỉ tại hẻm núi, nơi khuất gió.

< Quây quần bên lửa trại.

Địa hình núi rất đa dạng, ban đầu là rừng nguyên sinh, rồi đến rừng trúc, những đồi hoa dại trải dài miên man. Dưới thấp âm u sương mù nhưng khi qua được tầng mây là một khung cảnh hấp dẫn. Thung lũng tràn ngập mây như hồ kem vậy, mây vờn uốn lượn cũng như đang leo núi.

< Thung lũng hồ mây.

< Những con ngựa nhởn nhơ gặp cỏ trên cao nguyên.

Từ trên cao độ 2.000m tới đỉnh bạn sẽ bắt gặp những đồi cỏ xanh mướt, không khác gì thảo nguyên rộng lớn.

< Những đàn mây leo núi.

Với địa hình đồi cỏ rộng, thoáng đãng nên được người dân bản địa lập lán nuôi nhiều bò, ngựa và được thả hoang dã. Đâu đó những đàn ngựa nhởn nhơ gặm cỏ sẽ khiến bạn ngỡ như đang trên thảo nguyên của người du mục.

< Đường lên đỉnh phải băng qua những đồng cỏ khô cháy.

< Cảm xúc dâng trào khi nâng cao lá cờ tổ quốc trên đỉnh núi.

Phượt ký của Ngô Huy Hòa (iHay.Thanhnien)
Travel79.net

Tà Chì Nhù - đại dương trên đỉnh trời
Tà Chì Nhù - Thiên đường nơi hạ giới

Những phố chợ mùa xuân

(DNSG) - Trong những lần rong ruổi lữ hành, chúng tôi phát hiện rằng ở mỗi thành phố, dù ở bất kỳ quốc gia nào, luôn tồn tại những không gian vui tươi, nhộn nhịp, đầy màu sắc. Đó là những phố chợ bán hàng tươi sống, rau quả sạch xanh và những đặc sản địa phương không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Những khu chợ truyền thống rất đời thường, thật thà và gần gũi.

Từ thế giới mới

Tại Melbourne, có một địa chỉ mà nhiều phụ nữ yêu thích công việc nội trợ thường đến thăm là Queen Victoria Market, hay gọi thân mật theo kiểu cư dân nơi đây là “QVM”. Đây là khu chợ lộ thiên, hoạt động từ năm 1878 đến nay và mỗi năm là điểm đến tham quan của nhiều triệu lượt khách Úc và quốc tế.

Hơn 50% các loại hàng hóa bán trong khu chợ rộng lớn này của bang Victoria là hàng tươi sống , từ rau củ, trái cây đến các oại thịt, thủy hải sản và sản phẩm từ sữa, các loại bánh...

Khi thăm QVM vào một buổi sáng cuối tuần hồi cuối năm, tôi bị một dòng sản phẩm rất đỗi “tầm thường” thu hút mạnh. Có lẽ vì chúng có màu sắc rất bắtmắt và lại phát tỏa hương thơm thật quyến rũ. Đó là những cục xà bông làm toàn bằng những nguyên vật liệu có sẵn trong thiên nhiên ở quanh vùng. Mùi cam, mùi chanh vàng, mùi chanh xanh, mùi xoài, mùi lê, mùi táo..., tha hồ mà chọn.

Đảm bảo không hóa chất, tắm gội xong, da không bị mẩn đỏ, không bị ngứa ngáy khó chịu. Vì đây là hàng “thiên nhiên” mà! Và bạn cũng có thể tìm mua được tại QVM rất nhiều quà lưu niệm cho chuyến du lịch Úc, cùng nhiều mặt hàng tiêu dùng giá rẻ khác. Đặc biệt, có một khu vực được gọi là chợ vang, mà vang Úc thì nay nổi tiếng thế giới. Có những chai với hương cực thơm, vị cực ngon mà giá bán lẻ chỉ từ 6 - 10 đô Úc.

Điểm nổi bật khác của QVM là The Deli Hall, khu vực chuyên bán các loại thực phẩm, bánh kẹo, đồ nguội... với rất nhiều đặc sản của nhiều cộng đồng người di dân đến từ Hy Lạp, Ý, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ... Chả trách với sự phong phú hương và vị như thế nên Melbourne được mệnh danh là “Thủ đô ẩm thực quốc tế” của nước Úc.

Tại Sydney, thành phố du lịch Úc nổi tiếng thế giới, ngay trong khu thị tứ City có mấy chợ rất hấp dẫn, nhưng cám dỗ nhất vẫn là Paddy’s Market, rất gần Phố Tàu.

Bạn có thể tìm mua được rất nhiều loại hàng trong ngôi chợ lớn này vì có đến hơn 1.000 gian hàng, từ quần áo, giày dép, nón, đồ thể thao, đồ lưu niệm đến trái cây, rau củ, thủy sản... Bạn sẽ vui thích hòa mình vào đám đông đi chợ màhầu hết là khách du lịch đến từ rất nhiều nước. Dĩ nhiên, bạn sẽ có cơ hội nói tiếng Việt với du khách Việt và cả những chủ sạp hàng cũng là Việt kiều Úc.

Đã đến Sydney rồi thì nên thu xếp thời gian tham quan, khám phá chợ cá Sydney Fish Market. Chợ cá này được công nhận là một trong ba chợ chuyên kinh doanh hải sản tươi sống lớn nhất thế giới và còn hiện diện trong Nhóm 10 chợ thực phẩm hay nhất thế giới, theo bình chọn của CNN Traveler 2013.

Tọa lạc ở Pyrmont, cách khu thị tứ Sydney khoảng 2km, chợ cá Sydney mở cửa bảy ngày trong tuần, là nơi bạn có cơ hội thưởng thức bữa tiệc hải sản ngay bên bến cảng, trong nhà hàng Fish Market Cafe. Gọi thêm chai vang trắng Sauvignon Blanc hoặc Riesling thì bạn sẽ có bữa ngon nhớ đời.

Trở về thế giới cũ

Rất có thể các bạn, những doanh nhân lữ hành, từng rảo bộ ngắm cảnh và mỹ nhân trên La Rambla, phố đi bộ rộng và dài 1,2km từ Quảng trường Placa Catalunya, trung tâm thành phố Barcelona, đến tận bến cảng Port Vell, nơi sừng sững tượng nhà thám hiểm Christopher Columbus.

Lần sau có đi trên phố này, hãy chú ý, theo hướng từ Quảng trường đổ xuống bến tàu, phía bên tay phải, bạn sẽ thấy hiện ra một cái hẻm rộng có cổng chào bằng những thanh sắt uốn cong với hàng chữ “Mercat de Sant Josep de la Boqueria” (Chợ Thánh Yuse thành Boqueria).

Hãy bước vào bên trong không gian với mái vòm làm bằng sắt và kính, bạn sẽ có những giây phút thú vị ngập tràn màu sắc, hương vị, âm thanh. Và dám chắc rằng, sau nhiều lần khứu giác, vị giác, thị giác bị kích thích cao độ, bụng của bạn sẽ sôi lên, miệng của bạn sẽ muốn ăn, muốn uống. Vậy thì nên chọn ăn gì, uống gì khi thăm chợ La Boqueria này?

Hãy ghé sạp tạp hóa mua ngay một khúc xúc xích, vài trăm gam giăm bông heo Iberico, vì đây chính là đặc sản Tây Ban Nha lừng danh thế giới. Và hãy mua luôn một chai vang đỏ Porto, ổ bánh mì baguette dài, to, một góc phô mai làm từ  sữa dê. Thế là bạn sẽ có bữa trưa ngon lành khi ngồi bên bến cảng ngắm dòng đời trôi trên biển Baleare.

Xin biết rằng, La Boqueria mới đây được CNN Traveler xếp hạng nhất trong Nhóm 10 chợ xuất sắc nhất thế giới năm 2013. Nó cũng là phố chợ hàng tươi sống nổi tiếng nhất châu Âu và là một trong những địa chỉ thu hút rất nhiều khách du lịch khi họ đặt chân đến Barcelona.

Được biết chợ La Boqueria đã hình thành từ năm 1217, chẳng hề theo một quy hoạch, bản thiết kế nào cả. Buổi ban đầu chỉ là vài cái bàn gỗ bày bán các tảng thịt heo, thịt bò, thịt cừu... Vậy mà bây giờ là nơi bạn có thể đến gọi ngay một món ăn ngon nổi tiếng khác của Tây Ban Nha: cơm chiên hải sản áp chảo paella. Người dân Barcelona có thói quen chỉ dùng bữa rưa khi đồng hồ đã chỉ 14g30 và bữa tối
diễn ra lúc 22g!

Lữ hành sâu xuống miền Nam, bạn đến Istanbul, thành phố mà cách nay 560 năm mang tên Constantinopolis, kinh đô của Đế chế La Mã phương Đông. Và tại thành phố trù phú nhất đất nước Thổ Nhĩ Kỳ này có một địa chỉ mà mọi du khách đều tìm đến, gồm cả gã điệp viên 007 (phim Skyfall) và tài tử Liam Neeson trong vai người bố đi tìm con gái và vợ bị bọn khủng bố bắt cóc (phim Taken 2).

Đó là Grand Bazaar, có lẽ là một trong những khu chợ rộng lớn và lâu đời nhất thế giới với hơn 4.000 cửa hàng trải khắp 60 con phố hợp nhất dưới mái nhà khổng lồ, mỗi ngày thu hút khoảng 400.000 khách. Rất nhiều thảm, đủ kiểu đèn, muôn vàn dạng nữ trang, kim hoàn, đồ cổ, đồ giả cổ, đồ sành sứ, áo da, túi xách... Đây là chợ tạp hóa hình thành từ năm 1461 và nay có thêm nhiều nhà hàng kebab, quán trà, cà phê.

Kết thúc một vòng tham quan Grand Bazaar, có thể bạn sẽ nhận thấy, hầu hết người bán hàng là các ông, các anh trang phục rất bảnh bao, vóc dáng cao ráo và họ đều rất lanh lợi, liến thoắng. Họ chào bán hàng cực kỳ giỏi, họ kiên nhẫn cả tiếng đồng hồ lần lượt trải rộng ra mấy chục tấm thảm đủ kiểu, đủ màu, đủ kích cỡ để thuyết phục bạn mua. Đây là cơ hội cho bạn trổ tài trả giá.

Và có thể bạn cũng sẽ cảm nhận được rằng người Thổ Nhĩ Kỳ rất thích ăn ngọt, các loại kẹo truyền thống Thổ, gọi chung theo tiếng Anh là Turkish Delights, ngọt kinh khủng! Và cách thức người Thổ thưởng thức trà nóng cũng khác hẳn người châu Á nói chung và người
Việt nói riêng.

Hầu hết mọi du khách ngoại quốc khi đến thăm Sài Gòn đều tìm đến chợ Bến Thành, chợ Bình Tây. Du khách Việt khi xuất ngoại tham quan cũng hãy thăm phố chợ, vì đó là cách hay nhất để nắm bắt được phần nào lối sống và cách hưởng thụ, ăn, uống của người địa
phương.

Chẳng hạn, có đi bộ qua phố chợ hàng tươi sống trên đường Poncelet, cách Khải Hoàn Môn ở Kinh thành Ánh sáng Paris chỉ mươi phút đi bộ, du khách nước ngoài mới khám phá được hiện nay còn rất nhiều người Pháp thích ăn thịt... ngựa hơn thịt bò. Những hình đầu ngựa
cùng tấm biển ghi hàng chữ “Boucherie Chevaline” như dấu chỉ hùng hồn rằng đây là nơi bán thịt ngựa 100%, không hề có chuyện thịt ngựa giả thịt bò như đã từng gây xì-căng-đan tại nhiều nước châu Âu khác trong năm 2013.

Ngay phía đối diện là Bacchus, một cửa hàng kinh doanh đủ loại vang Pháp đầy mời mọc. Mỗi ngày, chợ ở đường Poncelet này nhóm họp lúc bình minh, đến trưa là tan. Nhưng đây là một địa chỉ du lịch thu hút nhiều khách tham quan. Thì ra Paris nào chỉ có các shop đắt tiền ở

Quảng trường Vendôme, các đại lộ Champs Élysées, Haussman, Saint Germain des Près... mới hút khách. Còn tại phố chợ chiếm trọn một vỉa hè rộng, dài của con đường dẫn đến tòa tháp Montparnasse và nhà ga xe lửa cùng tên, bạn biết thêm người Pháp cũng thích món gà rôti, kẹo nougat nhân hạt dẻ... Và tại các phố chợ Pháp không thể thiếu các quầy, các sạp đầy ắp các loại phô mai, xúc xích, giăm bông và gan ngỗng ở đủ các dạng khác nhau, từ sơ chế đến đóng hộp.

Như nhiều phố chợ khác mà chúng tôi đã tìm đến để xem rồi ăn, uống và mua ít quà đặc biệt trong những lần chu du trước đây, tại Amsterdam, Basel, Brussels, Florence, Lisboa..., các chợ hàng tươi sống tại Paris cũng có nhiều sạp bán sôcôla, bánh kẹo đặc sản, đủ loại trái cây, rau củ sạch xanh và đủ loại hoa thi nhau khoe sắc, tỏa hương thơm quyến rũ.
Đúng vậy, phố chợ là nơi quanh năm luôn có sắc Xuân!

Theo P. Nguyễn Dũng (Doanh Nhân Sàigòn)
Travel79.net

Ký ức Thác Bờ

(ĐĐK) - Đã từ lâu, mỗi khi nói đến Sông Đà - Hoà Bình, người ta nghĩ ngay đến chợ Bờ. Bởi, từ khi tỉnh Mường mới thành lập, người Pháp đã đặt tỉnh lỵ ngay tại nơi đây. Để đến được trung tâm hành chính này người ta phải vượt qua con thác nổi tiếng bởi vẻ trữ tình và hung bạo: Thác Bờ.

Thác Bờ nằm trong hệ thống thác trong câu ca xưa:
Đường lên mường lễ bao la
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh
Những người cao tuổi sống dọc sông Đà, hay những người có công, có việc đi lại, làm ăn trên sông Đà vào những năm trước 1980, thường có ấn tượng rất sâu đậm về những chiếc thuyền độc mộc được làm ra từ đất Vạn Yên.

Ngày chưa có thủy điện, tàu thuỷ từ Hà Nội ngược Sông Đà thường chỉ lên tới Chợ Bờ, còn vượt thác thì phải dùng thuyền độc mộc. Có người kể rằng, vào khoảng cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp đã lập xong tỉnh Bờ, hoàng tử nước Pháp Hăng – ri Oóc – lê - ăng đã đi tàu thuỷ lên Chợ Bờ. Ông đã cho dọn tiệc chiều ngay trên boong tàu, vừa uống rượu cùng với thống sứ, vừa ngắm những dãy núi đá vôi kỳ vĩ hai bên bờ sông.

Ngay sau đó, chiếc tàu trở về Hà Nội, còn hoàng tử cùng đoàn thuỷ tuỳ tùng đã vượt thác lên Vạn Yên bằng thuyền độc mộc.

Người Pháp đã nhiều lần muốn phá Thác Bờ để cho tàu chiến và các loại tàu vận tải nặng có thể ngược lên Tây Bắc. Vào khoảng năm 1890, công xứ Mo – ren có ý muốn khơi một con đường thuỷ giữa Thác Bờ. Nhiều cuộc thăm dò địa chất đã được tiến hành và tốn không biết cơ man nào là mìn của công binh để phá thác, nhưng vẫn vô hiệu.

Sau này, vào năm đầu thế kỷ XX (tháng 6 năm 1901) ông Gia-gô - tăng, kỹ sư, cùng các ông Gô-đa và Ga-Giăng cùng lên khảo sát Thác Bờ và tìm cách xác định sức nước Sông Đà khi chảy qua đây. Rồi lại đến cả ông Gô-mét (nhà thầu làm đường xe điện Hà Nội – Sơn Tây) cũng đã tìm cách áp dụng sức nước Sông Đà vào kỹ nghệ...

Ngay từ những năm xưa, chợ Bờ đã thành nơi buôn bán sầm uất. Những thổ sản của vùng Vầy Nưa, Hiền Lương, Vạn Yên, Phù Yên, Châu Mộc... được người ta lũ lượt gùi ra bờ Sông Đà lên thuyền độc mộc, đến chợ Bờ.

Đã có những tiệm ăn, sòng bạc của người Hoa và cũng có cả những đám cướp hoành hành suốt một dải Sông Đà. Họ có tài ẩn hiện như ma quỉ. Và đã có lúc, người Pháp cảm thấy không yên, bất lực nên đã chuyển tỉnh lỵ về Phương Lâm nhưng vẫn không bỏ Chợ Bờ. Về Phương Lâm, do chướng khí của Đầm Quỳnh (hồi cuối thế kỷ trước còn rất hoang vu), không ở được, người Pháp lại chuyển tỉnh lỵ lên Chợ Bờ. Một vài lần như vậy, tỉnh lỵ tỉnh Mường mới yên ổn ở đất Hoà Bình và được gọi là tỉnh Hoà Bình cho đến ngày nay.

Ai cũng biết, sau này người Nga đã dựa trên tài liệu khảo sát Sông Đà ban đầu của người Pháp, trong đó có khảo sát rất kỹ phía dưới Thác Bờ, để tiếp tục khảo sát kỹ hơn và đã xây dựng thành công nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình.

Sau khi nhà máy Thuỷ điện Hòa Bình hoàn thành, Chợ Bờ đã chìm sâu dưới đáy nước. Cùng với Thác Bờ và Chợ Bờ, nhiều làng Mường, làng Dao, làng Thái cũng đã chìm xuống. Dân Chợ Bờ cũ, phần vào bãi Sang, Tòng Đậu (Mai Châu), phần vào Tu Lý, Dốc Cha (Đà Bắc) phần dạt về định cư ở vùng Bình Thanh, Thung Nai.

Bây giờ những thứ cá nổi tiếng vùng Thác Bờ như cá cháy, cá rầm xanh, cá chiên, cá lăng... vẫn còn. Ở chợ Phương Lâm và các chợ bên công trường cũ như chợ Vồ, chợ Tổng, chợ Tân Thành vẫn còn bán những con cá rất lớn mà người ta phải xả ra những miếng nhỏ hai, ba cân để bán lẻ. Một vài món ăn làm từ lòng cá cũng đã bắt đầu nổi tiếng. Tuy vậy, cá anh vũ là thứ cá nổi tiếng từ xa xưa, những người cai quản lộ Đà Giang vẫn tiến vua thì nay đã hiếm. Thứ cá này có cái môi dày vì nó phải cắm ghim vào đá thác, chống lại sức nước chảy để hóng lấy thức ăn. Cá anh vũ sở dĩ nổi tiếng là ở cái môi đặc biệt của nó. Bây giờ không còn thác nữa, chắc nó lại đi tiếp lên phía thượng nguồn để tìm thác mới.

Anh Triệu Văn Phong, bí thư chi bộ xóm Ngù, một xóm thuần người Dao, định cư chon von bên sườn núi Biều có kể cho tôi nghe lịch sử di cư của người Dao vào đất Việt qua một bài cúng. Đại ý là do một hoạn nạn, người Dao từ Trung Hoa chạy sang đất Việt và cứ men theo hai bờ sông Hồng, sông Đà mà đi, nhưng không được đi quá những triền núi mà vua Lê chỉ định...

Như vậy, người Dao đã có một quá trình thiên di trên sông nước. Bây giờ định cư trên triền núi cao đã đánh mất thói quen đi đường thuỷ. Người Dao có cái gùi đan bằng lưới rất đặc trưng. Cái túi thật là vạn năng, nó đi theo người Dao bất cứ ở đâu, lúc đang làm bất cứ việc gì, đựng bất cứ vật gì, từ những thứ quí giá như bạc trắng cho đến bột cám lợn. Cái gùi lưới ấy nó tiện cho việc đi dốc núi, đi rừng rậm, đến nỗi người ta có thể nghĩ rằng người Dao sinh ra là đã được ông trời đặt cái gùi đó vào nôi rồi.

Từ làng Ngù nhìn thẳng sang Vầy Nưa, bây giờ người Dao làng Ngù đã có rất nhiều người có thuyền máy để chở hàng từ Sơn La về, chở hàng đi Chợ Bờ, đi chợ Phương Lâm... Cái thuyền nó chở được bằng hai, ba ngàn cái gùi một lúc. Nhưng đi trên thuyền , người Dao vẫn đeo gùi. Tuy vậy, cái đầu người Dao đã suy nghĩ trên cái thuyền máy chứ không phải trên đường mòn nữa.

Còn một làng Dao gọi là làng Phủ xưa thì đã hoàn toàn ngập trong nước. Những con cá chiên Thác Bờ đã về đẻ trứng trên những bụi nứa làng Phủ. Người Dao làng Phủ bây giờ không còn đất ruộng, cũng không còn đất làm nương. Họ xoay ra nuôi cá lồng, đi câu, đánh lưới... Những nghề kiếm sống hoàn toàn mới mẻ đối với người Dao. Nếu trước đây họ sống chủ yếu nhờ nương rẫy thì đến nay họ sống chủ yếu nhờ nghề cá. Cá làng Phủ chưa bị ô nhiễm, ăn rất ngon. Những kẻ sành ăn ở đất thị xã (nay là thành phố Hoà Bình ) tìm vào tận làng Phủ, phải vượt ba bốn con dốc để mua cá về ăn.

< Chợ Bờ cũ xưa đã chìm dưới độ sâu 200 mét. Chợ Bờ hôm nay ven theo bờ núi.

Bây giờ Chợ Bờ xưa đã ngập trong nước. Những cây đa, cây si cổ thụ ở chợ cũng đã chìm đi. Nhưng những kỷ niệm về nó thì vẫn đeo đẳng theo mỗi đời người. Chợ đã được dời lên một mom đất cao, trông như một cái đầu có răng nhô ra mặt hồ. Chợ Bờ bây giờ còn là cái chợ hồ theo mọi nghĩa của nó. Trong ngày phiên (chủ nhật) thuyền lớn, thuyền nhỏ đậu kín quanh mom đất. Ngoài những sản vật truyền thống như măng, mộc nhĩ, nấm hương, mật ong, lợn Mường, lợn Mán, cá hồ... Còn có rất nhiều chuối. Cả một vùng mênh mông này thích hợp với chuối.

Theo Bùi Minh Chức (Đại Đoàn Kết)
Travel79.net

Tết người Mông rực rỡ sắc màu

Những bộ váy áo cầu kỳ với màu sắc rực rỡ của các cô gái người Mông ẩn hiện trong những rừng mận hay những đồi chè tạo nên một không gian tuyệt đẹp đặc trưng của vùng cao, sẽ khiến bạn mê mẩn không muốn rời.

Tết là dịp mà các bản làng người Mông sôi động nhất, khi mọi người mặc quần áo mới nô nức chơi tết, gặp gỡ giao lưu và chơi các trò chơi cổ truyền như đánh quay, ném còn hay có cả các trò chơi hiện đại như đá bóng, bóng chuyền. Theo phong tục người Mông, ngày mùng Một chỉ đi chúc Tết, uống rượu và đặc biệt kiêng kỵ việc tiêu tiền.

< Các cô gái say sưa chơi ném còn.

Khác với người Mông ở một số vùng như Lào Cai, hay Hà Giang thường ăn tết cùng với Tết Nguyên đán của người Kinh thì người Mông  ở Mộc Châu vẫn ăn tết theo lịch của người Mông. Tết này thường diễn ra vào đầu tháng Chạp âm lịch, khi những vườn mận bắt đầu chuẩn bị nở rực các sườn đồi. Tết người Mông có 3 ngày chính nhưng có tới 15 ngày để mọi người vui chơi.

< Các cô bé, cậu bé đi chơi tết trong những bộ quần áo mới rực rỡ đủ màu sắc.

Người Mông chuẩn bị ngày Tết rất chu đáo. Mỗi người mỗi việc, đàn bà miệt mài hoàn thiện đường thêu, nút chỉ trên bộ váy áo mới để cho người lớn, trẻ con diện Tết. Đàn ông tất bật đi mua sắm đồ hay thịt lợn gà làm bữa cơm thịnh soạn cho gia đình.

< Còn các cậu bé thì say sưa với trò đánh quay. Một trò chơi rất được yêu thích ở vùng cao.

Nếu như với người Kinh ở miền xuôi, mâm cỗ Tết không thể thiếu bánh chưng, bánh tét thì Tết người Mông phải có bánh dày để cúng tổ tiên và trời đất.

< Những cô gái Mông xinh đẹp diện những bộ váy tuyệt đẹp được thiết kế với nhiều chi tiết cầu kỳ.

Người Mông quan niệm, bánh dày tròn tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời - là nguồn gốc sinh ra con người và vạn vật trên mặt đất. Do đó, giã bánh dày là việc làm không thể thiếu trong ngày Tết nơi đây.

Gạo nếp nương thơm ngâm và đồ thành xôi đổ vào một máng gỗ, các chàng trai sức vóc khỏe mạnh dùng chày thay nhau giã đến khi thật nhuyễn và mịn, rồi gói lại bằng lá chuối. 6 cặp bánh đầu tiên gồm 12 chiếc tượng trưng cho 12 tháng trong một năm được dâng lên trời đất và vị thần mùa màng. Những chiếc bánh còn lại xếp vào hũ gỗ pơ mu đậy kín lại để ăn và thết đãi khách quý.

Người Mông không đón giao thừa mà quan niệm tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng một mới là cái mốc đánh dấu bắt đầu một năm mới. Vào ngày này, đàn ông dậy làm hết mọi việc thay phụ nữ, từ cho lợn gà ăn đến nấu cơm… Người Mông quan niệm, con trai là trụ của gia đình nên tất cả mọi việc trong gia đình phải chịu trách nhiệm để giữ được truyền thống cho cả năm.

Trong 3 ngày Tết, người Mông có tục dán giấy lên các công cụ lao động hàng ngày và đưa lên bàn thờ như một sự tri ân những "người bạn" trong lao động, sản xuất. Sau đó, họ đến nhà nhau chúc Tết, thưởng thức rượu ngô, bánh dày. Họ kiêng thổi lửa, kiêng gọi phụ nữ dậy sớm, kiêng tiêu tiền, cho ai hoặc xin ai bất kỳ cái gì, không hót rác, không ăn cơm chan trong những ngày Tết.

Từ ngày Mùng 4, người Mông mới bắt đầu chơi Tết. Những bộ váy, áo đẹp nhất sẽ trưng diện trong dịp này. Bởi vậy, nổi bật trong sắc màu e ấp của hoa mơ, hoa mận và sắc hồng của hoa đào là gam màu rực rỡ của những chiếc váy tung xòe trên cánh đồng cải trắng ngút ngàn, là tiếng leng keng đồng bạc hoa theo bước chân thiếu nữ đi chơi xuân...

Người Mông rất hiếu khách, khách tới chơi Tết sẽ được chủ nhà nhiệt tình mời những chén rượu rất vui vẻ. Trong hơi men của rượu ngô, đắm chìm trong không gian rực rỡ sắc màu, với tiếng trẻ con nô đùa, tiếng cười nói khúc khích của các cô gái Mông xinh đẹp, hay tiếng sáo của các chàng trai bạn sẽ thấy chếnh choáng với cái men say núi rừng không thể nào quên.

Travel79.net - ảnh Meogia