(TBKSG) - Tập đoàn Sun Group, đơn vị quản lý khu du lịch Bà Nà Hills vừa khai trương tuyến tàu hỏa leo núi tại Bà Nà (Đà Nẵng) vào thứ Bảy tuần này (ngày 26-4-2014). Đây cũng là tuyến tàu hoả leo núi đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam từ sau năm 1975.
Đây là tuyến tàu hoả leo núi bằng hệ thống cáp kéo. Tuyến tàu hỏa này giúp du khách dễ dàng di chuyển qua các thắng cảnh trên đỉnh Bà Nà như chùa Linh Ứng, vườn hoa Le Jardin, khu biệt thự cổ...
Tập đoàn Sun Group đã chọn nhà sản xuất hệ thống cáp Garaventa (Thụy Sĩ) thực hiện công trình tàu hoả leo núi tại Bà Nà Hills. Hệ thống cáp kéo của Garaventa được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, có thể xây trong thành phố, vùng nông thôn, trên địa hình đồi núi trắc trở… Công trình này được bắt đầu khởi công từ tháng 7-2013 cho đến cuối tháng 4-2014 thì hoàn tất.
Công ty Cổ phần dịch vụ cáp treo Bà Nà (thuộc Sun Group) cho biết, trước đây, để lên đỉnh núi, hầm rượu Debay, vườn Tịnh Tâm… từ ga Debay du khách cần vượt qua gần 2 km đường quanh co bằng xe trung chuyển hoặc đi bộ men theo vách núi đá. Do xe trung chuyển thường chỉ có thể chở được tối đa 16 người rồi quay vòng nên khó đáp ứng nhu cầu tham quan đỉnh Bà Nà vào ngày cuối tuần, ngày lễ hay các đợt cao điểm du lịch.
Tuyến tàu hỏa leo núi tại Bà Nà có sức chứa 80 người/cabin, đạt vận tốc 5m/s, công suất vận hành khoảng 1.600 khách/giờ. Hiện tại, Bà Nà Hills đang khuyến mãi vé tàu hoả leo núi với mức giá khứ hồi là 50.000 đồng/khách.
Theo The Saigon Times
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014
Đình An Ngãi Đông
(ĐNG) - Đình An Ngãi Đông hiện toạ lạc tại làng An Ngãi Đông, xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang.
Làng An Ngãi Đông ngày nay: bắc giáp làng Vân Dương, nam giáp núi Hố Dầu, đông giáp Khu công nghiệp Hoà Khánh, tây giáp làng An Ngãi Tây. Lưu truyền dân gian cho biết những dòng họ đến đây định cư sớm nhất gồm các họ Nguyễn, Hứa, Lê, Phạm nay mới đến đời thứ 11, căn cứ theo những thông tin trên làng An Ngãi Đông được các dòng họ lập nên cách đây khoảng 300 năm.
Theo người dân kể lại , làng An Ngãi Đông đã qua ba lần dựng đình. Lần đầu dựng ở phía nam làng dưới chân núi Hố Dầu, sau đó dời nhích vể phía bắc và lần cuối cùng là vị trí hiện nay. Mỗi lần chuyển vị trí là mỗi lần thay đổi về qui mô, kết cấu kiến trúc cũng như vật liệu xây dựng.
Đình An Ngãi Đông toạ lạc giữa một khu đất bằng, nằm ở giữa làng. Mặt tiền quay về hướng tây, trước mặt đình là cánh đồng làm yếu tố minh đường thuỷ tụ, trông xa là dãy núi Bà Nà án ngữ.
Đình có công trình kiến trúc chính là toà chính điện. Kiến trúc theo lối nhà rường một gian hai chái, gồm hai bộ vì có năm hàng cột. Tất cả hệ thống cột đều đứng trên đá táng hình quả bí.
Hình thức liên kết cột trong mỗi bộ vì cơ bản là liên kết kèo. Bản chất kỹ thuật của lối liên kết này không phải hiếm gặp mà khá phổ biến ở đình làng Đà Nẵng nói chung đình An Ngãi Đông cũng có xà cò cong nằm song song phía cây đòn đông và bộ phận cánh dơi trụ trốn đỡ lấy giao nguyên, đứng trên chân tôm. Mái đình lợp ngói âm dương. Nóc mái gắn trang trí hình”lưỡng long triều nguyệt” theo thế hồi long. Các bờ góc gắn các hình tượng khác trong tứ linh và hình giao long. Ở hai đầu bít đốc đều đắp nổi hình dơi và phong cảnh, hoa lá. Tất cả các trang trí trên đều được đắp khảm sành sứ.
Trong nội điện, sát vách tường phía sau xây ba khám thờ: Giữa thờ các vị thẩn trong tín ngưỡng truyền thống, hai bên tả hữu thờ những bậc tiền hiền và hậu hiền có công khai phá, phát triển làng An Ngãi Đông trong quá trình lịch sử, có những câu đối bằng chữ Hán ngưỡng vọng công đức thần thánh, tiền nhân.
Chính ngay giữa gian xây một hương án, tạo các ô bậc trang trí hình đầu rồng (chính giữa) và tứ quý, tứ hữu. Bước qua khoảng sân, trước chính điện, nằm trên trục thần đạo là bức bình phong. Mặt ngoài đắp nổi hình hổ, mặt trong đắp hình long mã khảm sành. Ngoài ra còn có ô nhỏ trang trí hoa lá và tứ hữu.
Cũng như các đình làng khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hằng năm nhân dân làng An Ngãi Đông đều tổ chức cúng tế thần linh, sinh hoạt hội hề tại đình làng như lễ tế Xuân, tế Thu, lễ Kỹ Kỳ an…
Trong tất cả những ngày lễ nói trên, qui mô nhất là đại lễ ngày 16 tháng 4 (âm lịch). Đây thực sự một kỹ lễ hội trong năm của dân làng. Vào dịp này, ngoài các nghi thức tế tự trang nghiêm, còn có các hoạt động vui chơi giải trí dành cho toàn thể dân làng với những hình thức phong phú đa dạng.
Với đầy đủ đặc tính của một thiết chế văn hoá làng xã Việt, đình làng An Ngãi Đông thực sự là một trung tâm tín ngưỡng, văn hoá của cộng đồng dân làng địa phương. Đó là nơi hội tụ và phản chiếu những giá trị sắc thái văn hoá cổ truyền của nhân dân An Ngãi Đông. Đình làng An Ngãi Đông được công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá cấp thành phố ngày 07/8/2010.
Theo Đà Nẵng.gov
Du lịch, GO!
Làng An Ngãi Đông ngày nay: bắc giáp làng Vân Dương, nam giáp núi Hố Dầu, đông giáp Khu công nghiệp Hoà Khánh, tây giáp làng An Ngãi Tây. Lưu truyền dân gian cho biết những dòng họ đến đây định cư sớm nhất gồm các họ Nguyễn, Hứa, Lê, Phạm nay mới đến đời thứ 11, căn cứ theo những thông tin trên làng An Ngãi Đông được các dòng họ lập nên cách đây khoảng 300 năm.
Theo người dân kể lại , làng An Ngãi Đông đã qua ba lần dựng đình. Lần đầu dựng ở phía nam làng dưới chân núi Hố Dầu, sau đó dời nhích vể phía bắc và lần cuối cùng là vị trí hiện nay. Mỗi lần chuyển vị trí là mỗi lần thay đổi về qui mô, kết cấu kiến trúc cũng như vật liệu xây dựng.
Đình An Ngãi Đông toạ lạc giữa một khu đất bằng, nằm ở giữa làng. Mặt tiền quay về hướng tây, trước mặt đình là cánh đồng làm yếu tố minh đường thuỷ tụ, trông xa là dãy núi Bà Nà án ngữ.
Đình có công trình kiến trúc chính là toà chính điện. Kiến trúc theo lối nhà rường một gian hai chái, gồm hai bộ vì có năm hàng cột. Tất cả hệ thống cột đều đứng trên đá táng hình quả bí.
Hình thức liên kết cột trong mỗi bộ vì cơ bản là liên kết kèo. Bản chất kỹ thuật của lối liên kết này không phải hiếm gặp mà khá phổ biến ở đình làng Đà Nẵng nói chung đình An Ngãi Đông cũng có xà cò cong nằm song song phía cây đòn đông và bộ phận cánh dơi trụ trốn đỡ lấy giao nguyên, đứng trên chân tôm. Mái đình lợp ngói âm dương. Nóc mái gắn trang trí hình”lưỡng long triều nguyệt” theo thế hồi long. Các bờ góc gắn các hình tượng khác trong tứ linh và hình giao long. Ở hai đầu bít đốc đều đắp nổi hình dơi và phong cảnh, hoa lá. Tất cả các trang trí trên đều được đắp khảm sành sứ.Trong nội điện, sát vách tường phía sau xây ba khám thờ: Giữa thờ các vị thẩn trong tín ngưỡng truyền thống, hai bên tả hữu thờ những bậc tiền hiền và hậu hiền có công khai phá, phát triển làng An Ngãi Đông trong quá trình lịch sử, có những câu đối bằng chữ Hán ngưỡng vọng công đức thần thánh, tiền nhân.
Chính ngay giữa gian xây một hương án, tạo các ô bậc trang trí hình đầu rồng (chính giữa) và tứ quý, tứ hữu. Bước qua khoảng sân, trước chính điện, nằm trên trục thần đạo là bức bình phong. Mặt ngoài đắp nổi hình hổ, mặt trong đắp hình long mã khảm sành. Ngoài ra còn có ô nhỏ trang trí hoa lá và tứ hữu.
Cũng như các đình làng khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hằng năm nhân dân làng An Ngãi Đông đều tổ chức cúng tế thần linh, sinh hoạt hội hề tại đình làng như lễ tế Xuân, tế Thu, lễ Kỹ Kỳ an…
Trong tất cả những ngày lễ nói trên, qui mô nhất là đại lễ ngày 16 tháng 4 (âm lịch). Đây thực sự một kỹ lễ hội trong năm của dân làng. Vào dịp này, ngoài các nghi thức tế tự trang nghiêm, còn có các hoạt động vui chơi giải trí dành cho toàn thể dân làng với những hình thức phong phú đa dạng.Với đầy đủ đặc tính của một thiết chế văn hoá làng xã Việt, đình làng An Ngãi Đông thực sự là một trung tâm tín ngưỡng, văn hoá của cộng đồng dân làng địa phương. Đó là nơi hội tụ và phản chiếu những giá trị sắc thái văn hoá cổ truyền của nhân dân An Ngãi Đông. Đình làng An Ngãi Đông được công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá cấp thành phố ngày 07/8/2010.
Theo Đà Nẵng.gov
Du lịch, GO!
Về nguồn trên núi Thùy Vân
Ngọn núi như một đám mây rủ nên có tên là Thùy Vân. Ngoài ra, núi còn có nhiều tên gọi khác, như: núi Đá Dựng, Hòn Thung, núi Ngang, núi Điện Bà, núi Châu Viên, núi Trương Phi... và tên ngày nay là núi Minh Đạm.
Nằm ven biển, Thùy Vân là nơi lý tưởng để ngắm toàn vùng biển Long Hải từ trên cao. Với địa hình hiểm trởc cùng rừng cây phủ xanh ngọn núi với nhiều hang hốc nên được sử dụng làm căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa- Vũng Tàu từ năm 1948-1975.
Khu căn cứ này được chia làm bốn khu: Chùa Viên, Đá Chẻ, Chùa Giếng Gạch, Đá Chồng với các hang trọng yếu được phục dựng khai thác du lịch (hang Huyện ủy, hang Huyện đội, hang Quân y, hang Thị xã Cấp, hang Quân giới, hang Binh vận, hang B2, hang xã Phước Hải…).
Những ngày tháng Tư hào hùng, Thùy Vân là điểm đến lý thú để vừa tìm hiểu về tích lịch sử, vừa thưởng lãm phong cảnh.
Ngọn Thùy Vân nằm trên con đường ven biển nối liền miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tức nằm dọc theo đường biển Long Hải- Hồ Tràm thuộc địa phận Bà Rịa- Vũng Tàu, nối hai tuyến quốc lộ 51 và 55, chỉ cách Vũng Tàu khoảng 30 cây số. Con đường trải nhựa đi qua những khu resort nổi tiếng bậc nhất Việt Nam. Vừa qua khỏi các khu resort, có bảng hướng dẫn bên trái rẽ vào khu căn cứ cách mạng Minh Đạm khoảng 3 cây số. Cổng vào khu căn cứ nằm ngay chân núi. Đường lên núi ngoằn ngoèo theo địa hình hiểm trở, được trải nhựa nên ô tô có thể lên tới nơi. Con đường mát rượi bóng cây, không khí trong lành, dễ chịu.
Sau vài mươi phút chạy xe gắn máy lên núi, du khách đặt chân đến khu căn cứ Minh Đạm- ghép tên từ hai vị Bí thư và Phó Bí thư huyện Đất Đỏ là ông Bùi Công Minh và ông Mạc Thanh Đạm đã hy sinh trên đường đi công tác do địch càn quét năm 1948. Ngọn núi cũng được đổi tên thành Minh Đạm.
Toàn bộ khu căn cứ xưa được phục dựng và giữ gìn nguyên trạng. Không cần người dẫn đường, du khách có thể leo lên những sườn đồi, những tảng đá lớn để tự khám phá toàn bộ khu căn cứ này trong một buổi.
Du khách sẽ cảm nhận rõ hơn những năm tháng chiến tranh ác liệt và hiểu thêm về cuộc sống chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng khi luồn rừng, hay lách mình giữa các hang hốc hiểm trở. Những hang đá lớn, nhỏ trên núi được các chiến sĩ cách mạng tận dụng làm nơi trú ngụ, làm việc. Có những hang sâu hàng chục mét nhưng có những hang nhỏ, hốc đá chỉ vài mét. Hang hốc chồng chất lên nhau rất vững chãi, tạo thành "địa lợi" cho khu căn cứ. Ở các hang đều có bảng chỉ dẫn với những thông tin được ghi chú rõ ràng.
Đặc biệt, từ đỉnh núi hoặc sườn núi, du khách có thể ngắm toàn cảnh biển Long Hải- Hồ Tràm xanh ngút ngàn. Những con sóng bạc đầu lăn tăn, những con thuyền nhấp nhô như điểm xuyến thêm sắc màu trên tấm thảm xanh biếc ấy.
Người ta ví dãy bờ biển này như một con rồng xanh uốn mình dưới chân núi Thùy Vân. Xuống núi là ra đến biển, du khách thỏa sức đắm mình trong làn nước biển xanh mênh mang. Bãi biển Long Hải và Hồ Tràm được khai thác du lịch với những khu resort cao cấp nhưng không có tình trạng cát cứ, quây chiếm bãi biển. Ngược lại, du khách và người dân địa phương vẫn có thể vui đùa, tắm biển trên suốt bãi biển sạch sẽ này. Chỉ riêng Bãi Dương còn giữ nguyên vẹn nét hoang sơ, chưa có những công trình, kiến trúc du lịch nào.
Giá lưu trú và ăn uống ở đây khá "mềm". Mùa lễ, Tết, khu vực này thu hút rất đông du khách nhưng phần lớn là khách địa phương và phụ cận nên họ đi về trong ngày. Vì thế, giá lưu trú gần như không đổi. Kết hợp lên rừng, xuống biển trong cùng một chuyến đi; vừa tìm hiểu lịch sử, vừa ngắm cảnh thiên nhiên ngoạn mục; đồng thời, tránh được những chỗ quá đông khách, ồn ào như Vũng Tàu, Phan Thiết, nhất là không phải canh cánh nỗi lo chặt chém, "cháy" phòng nghỉ dịp lễ…- đó là những lý do để du khách gần xa chọn đến với khu di tích lịch sử Minh Đạm.
Theo Thanh Nhàn (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Nằm ven biển, Thùy Vân là nơi lý tưởng để ngắm toàn vùng biển Long Hải từ trên cao. Với địa hình hiểm trởc cùng rừng cây phủ xanh ngọn núi với nhiều hang hốc nên được sử dụng làm căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa- Vũng Tàu từ năm 1948-1975.
Khu căn cứ này được chia làm bốn khu: Chùa Viên, Đá Chẻ, Chùa Giếng Gạch, Đá Chồng với các hang trọng yếu được phục dựng khai thác du lịch (hang Huyện ủy, hang Huyện đội, hang Quân y, hang Thị xã Cấp, hang Quân giới, hang Binh vận, hang B2, hang xã Phước Hải…).
Những ngày tháng Tư hào hùng, Thùy Vân là điểm đến lý thú để vừa tìm hiểu về tích lịch sử, vừa thưởng lãm phong cảnh.
Ngọn Thùy Vân nằm trên con đường ven biển nối liền miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tức nằm dọc theo đường biển Long Hải- Hồ Tràm thuộc địa phận Bà Rịa- Vũng Tàu, nối hai tuyến quốc lộ 51 và 55, chỉ cách Vũng Tàu khoảng 30 cây số. Con đường trải nhựa đi qua những khu resort nổi tiếng bậc nhất Việt Nam. Vừa qua khỏi các khu resort, có bảng hướng dẫn bên trái rẽ vào khu căn cứ cách mạng Minh Đạm khoảng 3 cây số. Cổng vào khu căn cứ nằm ngay chân núi. Đường lên núi ngoằn ngoèo theo địa hình hiểm trở, được trải nhựa nên ô tô có thể lên tới nơi. Con đường mát rượi bóng cây, không khí trong lành, dễ chịu.
Sau vài mươi phút chạy xe gắn máy lên núi, du khách đặt chân đến khu căn cứ Minh Đạm- ghép tên từ hai vị Bí thư và Phó Bí thư huyện Đất Đỏ là ông Bùi Công Minh và ông Mạc Thanh Đạm đã hy sinh trên đường đi công tác do địch càn quét năm 1948. Ngọn núi cũng được đổi tên thành Minh Đạm.
Toàn bộ khu căn cứ xưa được phục dựng và giữ gìn nguyên trạng. Không cần người dẫn đường, du khách có thể leo lên những sườn đồi, những tảng đá lớn để tự khám phá toàn bộ khu căn cứ này trong một buổi.
Du khách sẽ cảm nhận rõ hơn những năm tháng chiến tranh ác liệt và hiểu thêm về cuộc sống chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng khi luồn rừng, hay lách mình giữa các hang hốc hiểm trở. Những hang đá lớn, nhỏ trên núi được các chiến sĩ cách mạng tận dụng làm nơi trú ngụ, làm việc. Có những hang sâu hàng chục mét nhưng có những hang nhỏ, hốc đá chỉ vài mét. Hang hốc chồng chất lên nhau rất vững chãi, tạo thành "địa lợi" cho khu căn cứ. Ở các hang đều có bảng chỉ dẫn với những thông tin được ghi chú rõ ràng.
Đặc biệt, từ đỉnh núi hoặc sườn núi, du khách có thể ngắm toàn cảnh biển Long Hải- Hồ Tràm xanh ngút ngàn. Những con sóng bạc đầu lăn tăn, những con thuyền nhấp nhô như điểm xuyến thêm sắc màu trên tấm thảm xanh biếc ấy.
Người ta ví dãy bờ biển này như một con rồng xanh uốn mình dưới chân núi Thùy Vân. Xuống núi là ra đến biển, du khách thỏa sức đắm mình trong làn nước biển xanh mênh mang. Bãi biển Long Hải và Hồ Tràm được khai thác du lịch với những khu resort cao cấp nhưng không có tình trạng cát cứ, quây chiếm bãi biển. Ngược lại, du khách và người dân địa phương vẫn có thể vui đùa, tắm biển trên suốt bãi biển sạch sẽ này. Chỉ riêng Bãi Dương còn giữ nguyên vẹn nét hoang sơ, chưa có những công trình, kiến trúc du lịch nào.
Giá lưu trú và ăn uống ở đây khá "mềm". Mùa lễ, Tết, khu vực này thu hút rất đông du khách nhưng phần lớn là khách địa phương và phụ cận nên họ đi về trong ngày. Vì thế, giá lưu trú gần như không đổi. Kết hợp lên rừng, xuống biển trong cùng một chuyến đi; vừa tìm hiểu lịch sử, vừa ngắm cảnh thiên nhiên ngoạn mục; đồng thời, tránh được những chỗ quá đông khách, ồn ào như Vũng Tàu, Phan Thiết, nhất là không phải canh cánh nỗi lo chặt chém, "cháy" phòng nghỉ dịp lễ…- đó là những lý do để du khách gần xa chọn đến với khu di tích lịch sử Minh Đạm.
Theo Thanh Nhàn (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014
Ngọt thanh đường bát Quảng Nam
(DVO) - Từ lâu, người dân Quảng Nam khi chế biến các món ăn truyền thống như: bánh tổ, bánh nổ, bánh in, xôi ngọt, chè bắp đến xoa xoa… thường dùng đến đường bát - một sản phẩm đã làm nên cốt cách của người xứ Quảng quê tôi.
Đường bát - một sản phẩm truyền thống làm từ cây mía ở Quảng Nam. Theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục: “Đường phổi sản xuất ở phủ Điện Bàn xốp nhẹ mềm trắng, một phiến nặng một cân. Họ Nguyễn thường sai ký lục Quảng Nam mua ở châu Xuân Đài và xã Đồng Thẩm, có kỳ 300 cân, có kỳ 800 cân để cúng kỵ chạp, phát mỗi cân 24 đồng. Không có thuế. Hai châu và xã ấy có thể làm đường phèn, đường cát, mỗi năm nộp các thứ đường ấy cộng 48.320 cân thay tiền sai dư”.
Ở vùng quê Quảng Nam, từ miền đồng bằng lên trung du hay trải dọc theo hai con sông Vu Gia và Thu bồn đất phù sa màu mỡ là nơi thích nghi với nhiều loại cây trồng trong đó có cây mía. Khi những bông mía bắt đầu tàn, những cơn gió lạnh ngày càng nhạt dần là mùa đạp mía, nấu đường bắt đầu. Người Quảng Nam quê tôi gọi là mùa làm đường. Đây là mùa bận rộn nhất của người nông dân các vùng trồng mía.
Để mùa làm đường diễn ra suôn sẻ, theo truyền thống, người Quảng Nam thường chọn một ngày tốt để gọi là cúng khai trương lò. Chủ lò đường làm thịt con gà trống tơ chưa đạp mái và nấu một nồi xôi nếp hương chừng 4 lon gạo (khoảng hơn 1 kg) đem ra chòi.
Chủ lò thắp nén hương thành tâm khấn xin các Ông che phù hộ cho một mùa đường bình an, thắng lợi. Cùng lúc, các nông dân trai tráng trong xóm tụ tập tại lò đường, trịnh trọng khiêng các Ông che ra rửa lại, đặt nằm ngay ngắn giữa chòi. Các ông che được làm bằng gỗ mít hay từ gỗ của cây cốc chắc, dẻo. Các ông che được nối với một càng do các đôi bò kéo xoay quanh nhau.
Bộ che ép mía bằng gỗ gồm: có ba ống (một ống cái có đường kính từ 45 đến 50 cm) và hai ống con (mỗi ống có đường kính từ 35 đến 40 cm) xung quanh thân trên của mỗi ống có đục nhông dạng răng cưa và cả ba ống này luôn ăn khớp với nhau. Phía dưới của bộ che có mộng để giữ cố định khi các ống che khi quay và toàn bộ bộ che mía có thể dài từ 2m đến 2,5m và cao khoảng 1m.
Lễ cúng với rượu gạo, thịt gà, xôi nếp là việc thông qua kế hoạch mùa đường. Đầu tiên là việc đăng ký đạp mía lần thứ nhất cho từng hộ gia đình trong xóm, làng vì phải đạp cho mỗi nhà một ít trước đã, để mọi người ai cũng có được sản phẩm đường bát mà bán nhằm trang trải các khoản nợ nần nhất là dịp Tết đến, sau đó mới làm đại trà.
Lễ cúng ngày đầu tiên xong đâu đó, là việc đắp đất làm lò đường. Lò đường được thiết kế âm vào lòng đất khoản một phần tư nhằm tận dụng hết nhiệt độ tại lò. Trên lò bắt hai chảo lớn bằng gang (mỗi chảo khoảng 100 lít nước). Cánh phụ nữ được phân công chặt ngọn mía, dọn lá mía. Cánh đàn ông đốn mía và bó thành từng bó chuyển về lò.
Khi lượng mía đốn xong đủ để đạp thì che mới bắt đầu hoạt động. Ba bốn phụ nữ ngồi đưa mía vào khoảng giữa các ông che để ép (gọi là cho che ăn). Khi lượng nước mía đủ cho hai chảo, việc nấu đường mới bắt đầu. Đây là khâu quan trọng nhất đòi hỏi trình độ của người thợ nấu đường để có được những bát đường chất lượng, đẹp mắt.
Công đoạn nấu đường trải qua các bước: Nước mía được đổ vào chảo nấu cho tới đường gọi là chè hai, chè ba. Lúc thành đường là khi chè đã chuyển từ màu trắng sang màu vàng và lúc này khắp xóm dậy lên mùi đường non, thứ mùi thơm của đường khó diễn tả bằng lời.
Theo kinh nghiệm, quá trình nấu đường như vậy đòi hỏi người thợ lò phải chín tay nghề. Trong đó có cách cho vôi vào đường và nhồi đường. Đường già hay non vôi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành bát đường (sản phẩm). Đường sau đó được múc vào thùng. Người thợ lò bắt đầu tinh luyện từ cây gỗ bìn lin chắt và nặng. Họ sử dụng chiếc đũa đường đánh cho đường tới nước. Gọi là đũa nhưng thực sự là hai thanh gỗ dẹp có bề dài khoảng nửa mét, ngang một tấc.
Khi đường tới nước (đúng độ), với một sự tỉ mỉ và cần mẫn, người thợ rót vào chén được sắp thành từng dãy dài làm ba cơi (ba lần). Cơi đầu đường đầy 2/3 chén. Rót một vòng hết dãy chén, chờ cho đường hơi cứng lại rồi mới rót cơi hai thành một cục u, đến cơi ba thì cục u mới hoàn chỉnh và cục u này sẽ là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá đường đẹp hay xấu. Một tán đường bát mà không có cục u thì không thành tán đường, bởi cái duyên của tán đường nằm ở đó.
Đường thành phẩm được thương lái đến mua ngay tại lò. Người Quảng Nam khi tính đơn vị đường bát (tán) là cặp. Theo đó, cứ hai bát thành cặp. Cứ 30 cặp đường thành một bầu. Cứ 4 bầu gọi là một giỏ. Mỗi bầu người ta thường thêm một tán, gọi là tán đường kèm vừa để đề phòng vận chuyển bị bể nát vừa mang ý nghĩa thêm một tí để làm phước theo kiểu của Quảng Nam.
Thường lệ, dù làm mía nhiều hay ít khi ép mía nhà nào cũng dành lại vài bầu để ăn dần khi mùa gặp hái nấu chè, nấu cháo đường hoặc dùng vào giỗ chạp, tết đến. Để bảo quản, đường bát được xếp từng cặp có dây rơm quấn quanh bỏ vào giỏ đem phơi rồi đậy kỹ treo lên xà nhà. Có khi bỏ vào trong các ghè bằng sành đậy kín. Nhưng để giữ đường bát được khô lâu thì tốt nhất là vùi đường vào khoai khô hoặc khoai chà trong ghè bằng sành.
Đường bát là sản phẩm đặc biệt, là một cốt cách con người của Quảng Nam. Và cũng chính loại đường bát này mới làm nên các món ăn truyền thống nơi đây như bánh tổ, bánh nổ, bánh ít gai, xôi ngọt, chè đậu, chà bắp, chè bí đỏ đến xoa xoa... mà đường kính sản xuất bằng máy ly tâm dù sạch và hiện đại đến mấy vẫn không thay thế được so với đường bát. Cứ mỗi lần giỗ chạp, hay dịp lễ tết, đường bát lại góp phần làm cho các loại bánh cổ truyền thơm ngon ngọt dẻo.
Ngày nay, ở Quảng Nam diện tích trồng cây mía ít dần đi hoặc có nơi bà con bỏ hẳn không còn trồng mía nữa. Những cặp đường bát lạc loài kia là cả một quá khứ với mùi đường non ngạt ngào, nghề đường dần chìm vào quên lãng... Nếu có dịp đến vùng quê trung du huyện Quế Sơn lác đác vẫn còn hiện diện nhiều xã trồng mía ép đường và hình ảnh đường bát vẫn được bày bán ở các chợ vùng quê Quảng Nam như một sản vật quý không hề mai một.
Theo Nguyễn Văn Sơn - Dân Việt
Du lịch, GO!
Đường bát - một sản phẩm truyền thống làm từ cây mía ở Quảng Nam. Theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục: “Đường phổi sản xuất ở phủ Điện Bàn xốp nhẹ mềm trắng, một phiến nặng một cân. Họ Nguyễn thường sai ký lục Quảng Nam mua ở châu Xuân Đài và xã Đồng Thẩm, có kỳ 300 cân, có kỳ 800 cân để cúng kỵ chạp, phát mỗi cân 24 đồng. Không có thuế. Hai châu và xã ấy có thể làm đường phèn, đường cát, mỗi năm nộp các thứ đường ấy cộng 48.320 cân thay tiền sai dư”.
Ở vùng quê Quảng Nam, từ miền đồng bằng lên trung du hay trải dọc theo hai con sông Vu Gia và Thu bồn đất phù sa màu mỡ là nơi thích nghi với nhiều loại cây trồng trong đó có cây mía. Khi những bông mía bắt đầu tàn, những cơn gió lạnh ngày càng nhạt dần là mùa đạp mía, nấu đường bắt đầu. Người Quảng Nam quê tôi gọi là mùa làm đường. Đây là mùa bận rộn nhất của người nông dân các vùng trồng mía.
Để mùa làm đường diễn ra suôn sẻ, theo truyền thống, người Quảng Nam thường chọn một ngày tốt để gọi là cúng khai trương lò. Chủ lò đường làm thịt con gà trống tơ chưa đạp mái và nấu một nồi xôi nếp hương chừng 4 lon gạo (khoảng hơn 1 kg) đem ra chòi.
Chủ lò thắp nén hương thành tâm khấn xin các Ông che phù hộ cho một mùa đường bình an, thắng lợi. Cùng lúc, các nông dân trai tráng trong xóm tụ tập tại lò đường, trịnh trọng khiêng các Ông che ra rửa lại, đặt nằm ngay ngắn giữa chòi. Các ông che được làm bằng gỗ mít hay từ gỗ của cây cốc chắc, dẻo. Các ông che được nối với một càng do các đôi bò kéo xoay quanh nhau.
Bộ che ép mía bằng gỗ gồm: có ba ống (một ống cái có đường kính từ 45 đến 50 cm) và hai ống con (mỗi ống có đường kính từ 35 đến 40 cm) xung quanh thân trên của mỗi ống có đục nhông dạng răng cưa và cả ba ống này luôn ăn khớp với nhau. Phía dưới của bộ che có mộng để giữ cố định khi các ống che khi quay và toàn bộ bộ che mía có thể dài từ 2m đến 2,5m và cao khoảng 1m.
Lễ cúng với rượu gạo, thịt gà, xôi nếp là việc thông qua kế hoạch mùa đường. Đầu tiên là việc đăng ký đạp mía lần thứ nhất cho từng hộ gia đình trong xóm, làng vì phải đạp cho mỗi nhà một ít trước đã, để mọi người ai cũng có được sản phẩm đường bát mà bán nhằm trang trải các khoản nợ nần nhất là dịp Tết đến, sau đó mới làm đại trà.Lễ cúng ngày đầu tiên xong đâu đó, là việc đắp đất làm lò đường. Lò đường được thiết kế âm vào lòng đất khoản một phần tư nhằm tận dụng hết nhiệt độ tại lò. Trên lò bắt hai chảo lớn bằng gang (mỗi chảo khoảng 100 lít nước). Cánh phụ nữ được phân công chặt ngọn mía, dọn lá mía. Cánh đàn ông đốn mía và bó thành từng bó chuyển về lò.
Khi lượng mía đốn xong đủ để đạp thì che mới bắt đầu hoạt động. Ba bốn phụ nữ ngồi đưa mía vào khoảng giữa các ông che để ép (gọi là cho che ăn). Khi lượng nước mía đủ cho hai chảo, việc nấu đường mới bắt đầu. Đây là khâu quan trọng nhất đòi hỏi trình độ của người thợ nấu đường để có được những bát đường chất lượng, đẹp mắt.
Công đoạn nấu đường trải qua các bước: Nước mía được đổ vào chảo nấu cho tới đường gọi là chè hai, chè ba. Lúc thành đường là khi chè đã chuyển từ màu trắng sang màu vàng và lúc này khắp xóm dậy lên mùi đường non, thứ mùi thơm của đường khó diễn tả bằng lời.
Theo kinh nghiệm, quá trình nấu đường như vậy đòi hỏi người thợ lò phải chín tay nghề. Trong đó có cách cho vôi vào đường và nhồi đường. Đường già hay non vôi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành bát đường (sản phẩm). Đường sau đó được múc vào thùng. Người thợ lò bắt đầu tinh luyện từ cây gỗ bìn lin chắt và nặng. Họ sử dụng chiếc đũa đường đánh cho đường tới nước. Gọi là đũa nhưng thực sự là hai thanh gỗ dẹp có bề dài khoảng nửa mét, ngang một tấc.Khi đường tới nước (đúng độ), với một sự tỉ mỉ và cần mẫn, người thợ rót vào chén được sắp thành từng dãy dài làm ba cơi (ba lần). Cơi đầu đường đầy 2/3 chén. Rót một vòng hết dãy chén, chờ cho đường hơi cứng lại rồi mới rót cơi hai thành một cục u, đến cơi ba thì cục u mới hoàn chỉnh và cục u này sẽ là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá đường đẹp hay xấu. Một tán đường bát mà không có cục u thì không thành tán đường, bởi cái duyên của tán đường nằm ở đó.
Đường thành phẩm được thương lái đến mua ngay tại lò. Người Quảng Nam khi tính đơn vị đường bát (tán) là cặp. Theo đó, cứ hai bát thành cặp. Cứ 30 cặp đường thành một bầu. Cứ 4 bầu gọi là một giỏ. Mỗi bầu người ta thường thêm một tán, gọi là tán đường kèm vừa để đề phòng vận chuyển bị bể nát vừa mang ý nghĩa thêm một tí để làm phước theo kiểu của Quảng Nam.
Thường lệ, dù làm mía nhiều hay ít khi ép mía nhà nào cũng dành lại vài bầu để ăn dần khi mùa gặp hái nấu chè, nấu cháo đường hoặc dùng vào giỗ chạp, tết đến. Để bảo quản, đường bát được xếp từng cặp có dây rơm quấn quanh bỏ vào giỏ đem phơi rồi đậy kỹ treo lên xà nhà. Có khi bỏ vào trong các ghè bằng sành đậy kín. Nhưng để giữ đường bát được khô lâu thì tốt nhất là vùi đường vào khoai khô hoặc khoai chà trong ghè bằng sành.
Đường bát là sản phẩm đặc biệt, là một cốt cách con người của Quảng Nam. Và cũng chính loại đường bát này mới làm nên các món ăn truyền thống nơi đây như bánh tổ, bánh nổ, bánh ít gai, xôi ngọt, chè đậu, chà bắp, chè bí đỏ đến xoa xoa... mà đường kính sản xuất bằng máy ly tâm dù sạch và hiện đại đến mấy vẫn không thay thế được so với đường bát. Cứ mỗi lần giỗ chạp, hay dịp lễ tết, đường bát lại góp phần làm cho các loại bánh cổ truyền thơm ngon ngọt dẻo.
Ngày nay, ở Quảng Nam diện tích trồng cây mía ít dần đi hoặc có nơi bà con bỏ hẳn không còn trồng mía nữa. Những cặp đường bát lạc loài kia là cả một quá khứ với mùi đường non ngạt ngào, nghề đường dần chìm vào quên lãng... Nếu có dịp đến vùng quê trung du huyện Quế Sơn lác đác vẫn còn hiện diện nhiều xã trồng mía ép đường và hình ảnh đường bát vẫn được bày bán ở các chợ vùng quê Quảng Nam như một sản vật quý không hề mai một.
Theo Nguyễn Văn Sơn - Dân Việt
Du lịch, GO!
Đến bản Tùy học nấu ăn
(ANTĐ) - Bản Tùy cách Hà Nội tròn 300 cây số. Bản nằm kề quốc lộ 34 đi Bắc Mê và Cao Bằng. Nằm ngay vùng ven thành phố Hà Giang, bản Tùy lẫn vào trong núi với những nếp nhà sàn cổ còn gần như nguyên vẹn.
Hà Giang, cái tên dường như quá quen thuộc với những người yêu du lịch khám phá, và đặc biệt là những người đi du lịch bằng xe gắn máy với đam mê trải nghiệm tay lái trên những cung đường đèo uốn lượn quanh co, cao vút lưng trời của cao nguyên đá Đồng Văn. Ấy vậy mà ở ngay trung tâm thành phố Hà Giang, trung tâm văn hóa, chính trị xã hội của cả tỉnh thì lại chả mấy dân du lịch nào hào hứng cả. Âu cũng bởi những người đi du lịch Hà Giang hầu hết đều không nhằm tìm kiếm sự ồn ào đô hội, không khám phá những dịch vụ đắt tiền cao cấp.
Họ đến Hà Giang để được ngắm cảnh, khám phá thiên nhiên, văn hóa, truyền thống và những tập quán sinh hoạt của đồng bào vùng cao, những điều còn xa lạ và nhuốm màu huyền bí.
Cũng bởi vị trí giáp ranh thành phố mà bản Tùy là một điểm đến không được mấy du khách để ý. Thế nhưng, đây lại là một nơi thật sự đặc biệt, phố có bản làng, có nhà sàn, có sương giăng mờ mỗi sớm và có cả những nét nguyên sơ của cuộc sống vùng cao.
Ở đây, tôi đã gặp hai khách nước ngoài đang trải nghiệm tự nấu ăn các món ăn đặc trưng của dân tộc Tày. Họ được hướng dẫn để tự nấu ngay trên nhà sàn, tự thưởng thức những món ăn do mình nấu và uống loại rượu được ủ từ thóc là đặc sản nơi đây. Thấy tôi ngỏ ý muốn học làm một số ăn truyền thống của người Tày, bà Lô Thị Tiên, chẳng ngại ngần dạy cho tôi công thức làm hai món Thịt Lam (Nứa Lảm) và Măng quấn thịt (Mảy Nhưởng). Trong khi bà vừa hướng dẫn vừa để cho tôi cùng làm thì cô con gái của bà - Lý Thị Châm đóng vai trò phiên dịch. Đây là hai món ăn đặc trưng của người Tày thường được dùng trong những bữa cơm khách cùng với Xôi ngũ sắc, khâu nhục, thịt gác bếp, rượu thóc, rêu nướng và các loại rau rừng.
Món Mảy Nhưởng được làm từ măng vầu tươi, luộc chín, tách riêng phần lá măng rồi cắt khúc chừng 5cm. Thịt lợn ba chỉ băm nhuyễn rồi trộn với hành lá thái nhỏ, bột nếp và thêm một ít hành khô băm, nêm thêm gia vị vừa phải. Tất cả nhồi vào những khúc măng còn nguyên dạng ống hoặc gói bằng những lá măng đã tách rời rồi cho vào nồi hấp chừng 30 phút là dùng được.
Món Nứa Lảm thì có phần phức tạp hơn. Thịt lợn bản luộc chín, cắt miếng vừa ăn rồi ướp thảo quả, hoa hồi, giấm, hạt tiêu cùng gia vị vừa ăn trong vòng 2-3 giờ cho ngấm. Sau đó nhồi vào ống tre, bịt hai đầu và nướng trên bếp lửa chừng 1 giờ cho tới khi phần vỏ tre cháy hết và có mùi thơm của thịt từ trong ống. Lúc ấy bóc vỏ tre, sẽ thấy thịt có màu sậm và thơm.
Bà Tiên cho biết, cả hai món trên đều được ăn cùng rau sống và nước mắm tỏi, ớt. Cách làm tuy có mất nhiều thời gian nhưng lại không khó nên mỗi khi có du khách đến bản bà thường dạy họ tự làm khoảng 1 đến 2 món trên chính mâm cơm họ sẽ thưởng thức vào bữa tối. Cũng bởi vậy mà bữa tối trên bản dù muộn nhưng ấn tượng. Ở bản Tùy, ngay ven thành phố Hà Giang, nơi mà những người đi du lịch bụi ít khi ghé lại, tôi đã có những trải nghiệm vô cùng thú vị với một đêm tự nấu ăn và nghỉ tại nhà sàn ngay trong lòng thành phố cao nguyên.
Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!
Hà Giang, cái tên dường như quá quen thuộc với những người yêu du lịch khám phá, và đặc biệt là những người đi du lịch bằng xe gắn máy với đam mê trải nghiệm tay lái trên những cung đường đèo uốn lượn quanh co, cao vút lưng trời của cao nguyên đá Đồng Văn. Ấy vậy mà ở ngay trung tâm thành phố Hà Giang, trung tâm văn hóa, chính trị xã hội của cả tỉnh thì lại chả mấy dân du lịch nào hào hứng cả. Âu cũng bởi những người đi du lịch Hà Giang hầu hết đều không nhằm tìm kiếm sự ồn ào đô hội, không khám phá những dịch vụ đắt tiền cao cấp.
Họ đến Hà Giang để được ngắm cảnh, khám phá thiên nhiên, văn hóa, truyền thống và những tập quán sinh hoạt của đồng bào vùng cao, những điều còn xa lạ và nhuốm màu huyền bí.
Cũng bởi vị trí giáp ranh thành phố mà bản Tùy là một điểm đến không được mấy du khách để ý. Thế nhưng, đây lại là một nơi thật sự đặc biệt, phố có bản làng, có nhà sàn, có sương giăng mờ mỗi sớm và có cả những nét nguyên sơ của cuộc sống vùng cao.
Ở đây, tôi đã gặp hai khách nước ngoài đang trải nghiệm tự nấu ăn các món ăn đặc trưng của dân tộc Tày. Họ được hướng dẫn để tự nấu ngay trên nhà sàn, tự thưởng thức những món ăn do mình nấu và uống loại rượu được ủ từ thóc là đặc sản nơi đây. Thấy tôi ngỏ ý muốn học làm một số ăn truyền thống của người Tày, bà Lô Thị Tiên, chẳng ngại ngần dạy cho tôi công thức làm hai món Thịt Lam (Nứa Lảm) và Măng quấn thịt (Mảy Nhưởng). Trong khi bà vừa hướng dẫn vừa để cho tôi cùng làm thì cô con gái của bà - Lý Thị Châm đóng vai trò phiên dịch. Đây là hai món ăn đặc trưng của người Tày thường được dùng trong những bữa cơm khách cùng với Xôi ngũ sắc, khâu nhục, thịt gác bếp, rượu thóc, rêu nướng và các loại rau rừng.
Món Mảy Nhưởng được làm từ măng vầu tươi, luộc chín, tách riêng phần lá măng rồi cắt khúc chừng 5cm. Thịt lợn ba chỉ băm nhuyễn rồi trộn với hành lá thái nhỏ, bột nếp và thêm một ít hành khô băm, nêm thêm gia vị vừa phải. Tất cả nhồi vào những khúc măng còn nguyên dạng ống hoặc gói bằng những lá măng đã tách rời rồi cho vào nồi hấp chừng 30 phút là dùng được.
Món Nứa Lảm thì có phần phức tạp hơn. Thịt lợn bản luộc chín, cắt miếng vừa ăn rồi ướp thảo quả, hoa hồi, giấm, hạt tiêu cùng gia vị vừa ăn trong vòng 2-3 giờ cho ngấm. Sau đó nhồi vào ống tre, bịt hai đầu và nướng trên bếp lửa chừng 1 giờ cho tới khi phần vỏ tre cháy hết và có mùi thơm của thịt từ trong ống. Lúc ấy bóc vỏ tre, sẽ thấy thịt có màu sậm và thơm.
Bà Tiên cho biết, cả hai món trên đều được ăn cùng rau sống và nước mắm tỏi, ớt. Cách làm tuy có mất nhiều thời gian nhưng lại không khó nên mỗi khi có du khách đến bản bà thường dạy họ tự làm khoảng 1 đến 2 món trên chính mâm cơm họ sẽ thưởng thức vào bữa tối. Cũng bởi vậy mà bữa tối trên bản dù muộn nhưng ấn tượng. Ở bản Tùy, ngay ven thành phố Hà Giang, nơi mà những người đi du lịch bụi ít khi ghé lại, tôi đã có những trải nghiệm vô cùng thú vị với một đêm tự nấu ăn và nghỉ tại nhà sàn ngay trong lòng thành phố cao nguyên.
Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!
Trở lại Mường Lò
(Depplus) - Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu. Mường Lò ở Yên Bái là một vùng đất phì nhiêu, trù phú nổi tiếng với gạo trắng, nước trong. Nơi đây còn được cho là mảnh đất quần cư đầu tiên của người Thái, giàu bản sắc, đậm đà phong tục, tập quán.
Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Đỉnh dẫy núi xa đổ xuống những dòng thác mây như từ trên trời đổ xuống mỗi khi vào đông khiến ta tưởng như thấy thác núi Lư trong thơ Lý Bạch đời Đường “Thác bay thẳng xuống ba nghìn thước/Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây…”.
Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.
Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh – Điện Biên (còn hai cánh đồng nhỏ hơn là Mường Than – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên).
Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu truyện sử thi của người Thái kể rằng: Hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái Đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào.
Câu tục ngữ: “Thái theo nước, Xá theo lửa” nói về tập quán canh tác của người Thái trồng lúa nước, người Xá (Khơ Mú) đốt nương làm rẫy. Còn ông Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái Trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được nhiều người biết đến.
Xuôi theo quốc lộ 32 với những miên man suy nghĩ về Mường Lò, Yên Bái. Để rồi ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi. Con suối Nậm Thia vắt ngang qua thung lũng như vẽ một nét lụa mềm uốn lượn giữa sóng lúa vàng. Tôi giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng người con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ lòng có thể quên.
“Ngày xưa, nơi ấy có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng.
Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối Nậm Thia, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi. Tôi lại đến với Mường Lò…!
Theo Depplus.vn
Du lịch, GO!
Tắm 'suối say' ở Mường Lò
Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Đỉnh dẫy núi xa đổ xuống những dòng thác mây như từ trên trời đổ xuống mỗi khi vào đông khiến ta tưởng như thấy thác núi Lư trong thơ Lý Bạch đời Đường “Thác bay thẳng xuống ba nghìn thước/Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây…”.
Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.
Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh – Điện Biên (còn hai cánh đồng nhỏ hơn là Mường Than – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên).
Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu truyện sử thi của người Thái kể rằng: Hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái Đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào.
Câu tục ngữ: “Thái theo nước, Xá theo lửa” nói về tập quán canh tác của người Thái trồng lúa nước, người Xá (Khơ Mú) đốt nương làm rẫy. Còn ông Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái Trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được nhiều người biết đến.
Xuôi theo quốc lộ 32 với những miên man suy nghĩ về Mường Lò, Yên Bái. Để rồi ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi. Con suối Nậm Thia vắt ngang qua thung lũng như vẽ một nét lụa mềm uốn lượn giữa sóng lúa vàng. Tôi giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng người con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ lòng có thể quên.
“Ngày xưa, nơi ấy có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng.
Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối Nậm Thia, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi. Tôi lại đến với Mường Lò…!
Theo Depplus.vn
Du lịch, GO!
Tắm 'suối say' ở Mường Lò
Hua Mạ, động treo lưng chừng núi
Động Hua Mạ (Đầu Ngựa) hay còn gọi là Động Treo, động Lèo Pèn nằm cách hồ trung tâm Vườn Quốc gia Ba Bể khoảng 10km về phía Nam. Sở dĩ, Hua Mạ được gọi là Động Treo bởi hang động này nằm ở lưng chừng núi, có độ cao so với mặt nước biển là 350m, chiều dài hơn 700m, sâu dưới 60m.
Muốn lên động, du khách phải leo chừng 300m theo các bậc cầu thang trên sườn núi dốc thoai thoải. Cửa động Hua Mạ nhìn ra một vùng nước non xanh biếc của hồ và rừng Ba Bể cùng với con sông Lèng êm ái chảy qua. Cửa động Hua Mạ nhìn ra một vùng nước non xanh biếc của hồ và rừng Ba Bể cùng với con sông Lèng êm ái chảy qua. Không chỉ là nơi sơn thủy hữu tình, động Hua Mạ còn nổi tiếng với những huyền sử kỳ bí. Để vào được động phải qua một cửa nhỏ rộng 3m, cao 5m, nhưng chỉ cần đi qua cửa vài chục bước chân, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước không gian động được mở rộng.
Trong động, không gian thoáng đãng do lòng hang rộng và thông nhau tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Bước xuống bậc thang đá, lòng hang còn lưu giữ nhiều tầng lớp của đá vôi hóa thạch màu trắng, thuộc loại đá hoa cương Ba Bể.
Dưới đáy động là một bãi đá đổ khổng lồ dài khoảng 150m. Ở đây có dấu vết của thác nước. Trần động có chỗ rộng và cao tới 40 - 50 m. Bên trong có nhiều nhũ đá muôn hình vạn trạng, đầy kỳ bí, lung linh, huyền ảo.
Nhũ đá từ phía trên hang rủ xuống, từ mặt đất nhô lên, thấp - cao, dài - ngắn, ngang - dọc đủ cả, tạo cảm giác rất thú vị. Mỗi nhũ đá hiện ra với dáng vẻ khác nhau, vô cùng sinh động: Chỗ thì giống thủy cung, nơi lại như hoàng cung trong một buổi thiết triều; chỗ lại giống cảnh thầy trò Đường Tăng trên đường sang Tây Trúc, chỗ thì hình tháp bút, nơi lại giống đóa sen…
Cách cửa hang khoảng 15m, trong đống đá đổ lẫn đất sét màu xám đỏ và tro, các nhà khảo cổ học đã từng phát hiện các công cụ bằng sành có hoa văn từ thời Lê, nay đã được quy tập về các bảo tàng. Trong lòng hang động, hàng vạn nhũ đá, rèm đá, cột đá, phiến đá với đủ các kiểu dáng kỳ dị được hình thành ngay từ cửa hang cho đến cuối hang. Điều đặc biệt, chúng như được bài trí, sắp xếp một cách tự nhiên nhưng vô cùng hợp lý.
Những nhũ đá, cột đá tạo thành hình những bức tượng thiên nhiên như tượng người ngồi câu cá hay có những đoạn các nhũ đá xếp ngay ngắn giống như một buổi thiết triều với đầy đủ văn võ bá quan...
Những hốc hang nhỏ bên trong cũng có những dáng hình kỳ lạ, làm tăng thêm phần huyền bí cho hang động tuyệt đẹp này. Lòng hang được chia làm nhiều phòng bởi các rèm đá, nhũ đá ngăn cách tự nhiên thông với nhau qua một hành lang quanh co, lúc ẩn lúc hiện trong ánh sáng mờ mờ hư ảo khiến cho du khách có cảm giác như đang lạc bước vào cõi thiên thai.
Động Hua Mạ có nhiều huyền thoại ly kỳ. Truyện kể rằng ở khu vực rừng “Lèo Pèn” tiếng Tày có nghĩa là Rừng Ma, nơi ma quỷ ngự trị có một sơn động lạ trên lưng núi. Ngày ngày, cứ chiều tà, tiếng kêu hú từ phía động vọng ra khiến dân chúng trong vùng không ai dám đến gần.
Một ngày cuối năm, có một vị tướng đi tuần qua, khi đến bờ sông Lèng, trời đã gần tối. Đoàn người ngựa định sang bản bên để nghỉ lại, nhưng lạ thay khi qua sông, cứ xuống đến mép nước ngựa lại quay đầu trở lại, hí vang như báo hiệu một điều gì đó. Cùng lúc đó từ phía động Lèo Pèn có tiếng hú vọng ra. Thấy sự việc lạ, vị tướng cho gọi dân làng đến hỏi thì được biết tiếng kêu đó là những oan hồn của dân binh đã cùng triều đình chống giặc, thế giặc mạnh nên họ đã cố thủ trong hang. Bọn giặc không làm gì được đã phá sập cửa hang, do đó những oan hồn không được siêu thoát cứ lởn vởn trong hang hú hét.
Hiểu rõ sự tình, quan quân liền hạ trại ngay cạnh bờ sông Lèng và mổ ngựa, lấy đầu ngựa làm lễ tế trời đất. Lạ thay, khi lễ tế vừa xong thì tiếng oan hồn trong động cũng im dần rồi mất hẳn. Từ đó, động Lèo Pèn có tên gọi là động Hua Mạ (theo tiếng Tày có nghĩa là động Đầu Ngựa). Cũng từ đó, trong động không còn những âm thanh kỳ lạ và huyền bí.
Động Hua Mạ đã được tỉnh Bắc Kạn đưa vào khai thác từ năm 2004, thuộc quần thể danh thắng hồ Ba Bể trong Vườn Quốc gia Ba Bể. Tuy nhiên, động Hua Mạ đến nay vẫn chưa thu hút được nhiều khách du lịch, một phần là do hạ tầng giao thông tuy đã được nâng cấp nhưng vẫn còn rất kém. Từ hồ Ba Bể vào, đoạn đường chỉ gần 6 km, nhưng xe ô tô 4 chỗ phải đi mất khoảng 20 đến 25 phút.
Tổng hợp từ ANTG và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!
Muốn lên động, du khách phải leo chừng 300m theo các bậc cầu thang trên sườn núi dốc thoai thoải. Cửa động Hua Mạ nhìn ra một vùng nước non xanh biếc của hồ và rừng Ba Bể cùng với con sông Lèng êm ái chảy qua. Cửa động Hua Mạ nhìn ra một vùng nước non xanh biếc của hồ và rừng Ba Bể cùng với con sông Lèng êm ái chảy qua. Không chỉ là nơi sơn thủy hữu tình, động Hua Mạ còn nổi tiếng với những huyền sử kỳ bí. Để vào được động phải qua một cửa nhỏ rộng 3m, cao 5m, nhưng chỉ cần đi qua cửa vài chục bước chân, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước không gian động được mở rộng.
Trong động, không gian thoáng đãng do lòng hang rộng và thông nhau tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Bước xuống bậc thang đá, lòng hang còn lưu giữ nhiều tầng lớp của đá vôi hóa thạch màu trắng, thuộc loại đá hoa cương Ba Bể.
Dưới đáy động là một bãi đá đổ khổng lồ dài khoảng 150m. Ở đây có dấu vết của thác nước. Trần động có chỗ rộng và cao tới 40 - 50 m. Bên trong có nhiều nhũ đá muôn hình vạn trạng, đầy kỳ bí, lung linh, huyền ảo.
Nhũ đá từ phía trên hang rủ xuống, từ mặt đất nhô lên, thấp - cao, dài - ngắn, ngang - dọc đủ cả, tạo cảm giác rất thú vị. Mỗi nhũ đá hiện ra với dáng vẻ khác nhau, vô cùng sinh động: Chỗ thì giống thủy cung, nơi lại như hoàng cung trong một buổi thiết triều; chỗ lại giống cảnh thầy trò Đường Tăng trên đường sang Tây Trúc, chỗ thì hình tháp bút, nơi lại giống đóa sen…
Cách cửa hang khoảng 15m, trong đống đá đổ lẫn đất sét màu xám đỏ và tro, các nhà khảo cổ học đã từng phát hiện các công cụ bằng sành có hoa văn từ thời Lê, nay đã được quy tập về các bảo tàng. Trong lòng hang động, hàng vạn nhũ đá, rèm đá, cột đá, phiến đá với đủ các kiểu dáng kỳ dị được hình thành ngay từ cửa hang cho đến cuối hang. Điều đặc biệt, chúng như được bài trí, sắp xếp một cách tự nhiên nhưng vô cùng hợp lý.
Những nhũ đá, cột đá tạo thành hình những bức tượng thiên nhiên như tượng người ngồi câu cá hay có những đoạn các nhũ đá xếp ngay ngắn giống như một buổi thiết triều với đầy đủ văn võ bá quan...
Những hốc hang nhỏ bên trong cũng có những dáng hình kỳ lạ, làm tăng thêm phần huyền bí cho hang động tuyệt đẹp này. Lòng hang được chia làm nhiều phòng bởi các rèm đá, nhũ đá ngăn cách tự nhiên thông với nhau qua một hành lang quanh co, lúc ẩn lúc hiện trong ánh sáng mờ mờ hư ảo khiến cho du khách có cảm giác như đang lạc bước vào cõi thiên thai.
Một ngày cuối năm, có một vị tướng đi tuần qua, khi đến bờ sông Lèng, trời đã gần tối. Đoàn người ngựa định sang bản bên để nghỉ lại, nhưng lạ thay khi qua sông, cứ xuống đến mép nước ngựa lại quay đầu trở lại, hí vang như báo hiệu một điều gì đó. Cùng lúc đó từ phía động Lèo Pèn có tiếng hú vọng ra. Thấy sự việc lạ, vị tướng cho gọi dân làng đến hỏi thì được biết tiếng kêu đó là những oan hồn của dân binh đã cùng triều đình chống giặc, thế giặc mạnh nên họ đã cố thủ trong hang. Bọn giặc không làm gì được đã phá sập cửa hang, do đó những oan hồn không được siêu thoát cứ lởn vởn trong hang hú hét.Hiểu rõ sự tình, quan quân liền hạ trại ngay cạnh bờ sông Lèng và mổ ngựa, lấy đầu ngựa làm lễ tế trời đất. Lạ thay, khi lễ tế vừa xong thì tiếng oan hồn trong động cũng im dần rồi mất hẳn. Từ đó, động Lèo Pèn có tên gọi là động Hua Mạ (theo tiếng Tày có nghĩa là động Đầu Ngựa). Cũng từ đó, trong động không còn những âm thanh kỳ lạ và huyền bí.
Động Hua Mạ đã được tỉnh Bắc Kạn đưa vào khai thác từ năm 2004, thuộc quần thể danh thắng hồ Ba Bể trong Vườn Quốc gia Ba Bể. Tuy nhiên, động Hua Mạ đến nay vẫn chưa thu hút được nhiều khách du lịch, một phần là do hạ tầng giao thông tuy đã được nâng cấp nhưng vẫn còn rất kém. Từ hồ Ba Bể vào, đoạn đường chỉ gần 6 km, nhưng xe ô tô 4 chỗ phải đi mất khoảng 20 đến 25 phút.
Tổng hợp từ ANTG và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
-30bc2.jpg)




























