Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

Bình yên như... Thái Bình

(DNSG) - Thái Bình một trong những vựa lúa lớn nhất miền Bắc, thuộc đồng bằng sông Hồng. Một vùng đất địa linh, nhân kiệt, khung cảnh yên bình và trù phú đúng như tên gọi của mình.

Thái Bình không có rừng hay núi, bốn phía là sông và biển bao quanh (một mặt là biển, ba mặt là sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa). Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Hải Dương và Hải Phòng, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nam và Hưng Yên, phía Nam giáp Nam Định.
Với diện tích 1.546,5 km² bao gồm các huyện: Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Đông Hưng, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và thành phố Thái Bình. Là một trong những tỉnh đông dân nhất Việt Nam, chỉ đứng sau hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

< Chùa Keo.

Thiên nhiên ban tặng cho Thái Bình đất đai bằng phẳng, mầu mỡ, phì nhiêu và nguồn tài nguyên phong phú. Toàn tỉnh có bờ biển dài 53km, cảng biển Diêm Điền, 5 cửa sông lớn và trên 16 nghìn ha bãi triều với trên 200 loài thuỷ sản, gần 2.500 đầu chim quý hiếm và những khoáng sản trầm tích tiến xa ra biển.

Trải qua 844 năm dưới chế độ khoa cử của các triều đại phong kiến (1075 - 1919), trong tổng số 2.898 trí thức đại khoa của Việt Nam, có 111 vị sinh ra từ quê hương Thái Bình. Nơi đây đã sinh ra những người con kiệt xuất của dân tộc như:

Tam khoa bảng nhãn Lê Quý Đôn - nhà bác học thế kỷ XVIII, Lý Bí, Trần Lãm; và những anh hùng đã ghi danh vào sử sách như: Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Tuân, Nguyễn Thị Chiên, Tạ Quốc Luật (người cầm cờ trên nóc hầm Đờ - Cát trong chiến dịch Điện Biên Phủ); Bùi Quang Thận (người phất cờ trên Dinh độc lập ngày 30/4/1975)...

< Đền Trần.

Người dân Thái Bình cần cù, sáng tạo, dũng cảm và thân thiện. Ở bất cứ đâu du khách cũng bắt gặp những nụ cười hồn hậu của người dân nơi đây. Vào mùa nào cũng vậy, Thái Bình là một bức tranh tuyệt mỹ đầy màu sắc; lúc lúa đương thì con gái, khắp nơi chế ngự một nền xanh bất tận, điểm xuyết những cánh cò trắng, còn vào mùa lúa chín, tất cả vàng rộm một màu, chen lẫn những ngôi đền, ngôi làng trù phú dưới bóng những bụi tre.

< Đền Tiên La.

Thái Bình níu chân du khách bằng 82 công trình kiến trúc đã được nhà nước xếp hạng di tích đặc biệt cấp quốc gia: chùa Keo, đền Trần, đền Đồng Bằng, đền Tiên La, đình An Cố, đình Thọ Phú, đình Thượng Phúc, Cụm di tích lưu niệm Danh nhân Lê Quý Đôn... , và 16 loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc hết sức phong phú và đặc trưng như múa rối nước, hát chèo, kéo chữ Phụng công, múa bát dập, hát ống Lộng Khê, hát trẽ khói Cốc mỏ… Nhiều trò chơi dân gian độc đáo: thi pháo đất, bắt cá, bắt trạch, bắt vịt, nấu cơm, dệt chiếu, rước ông Ðùng – bà Ðà, chọi trâu, chọi gà… Cùng với các làng nghề thủ công truyền thống như chạm bạc, thêu ren, dệt đũi, dệt chiếu…

Vùng quê này còn là một trong những vùng còn lưu giữ được dấu ấn của nghệ thuật hát ca trù. Bên cạnh đó, Thái Bình vẫn được nhắc tới là cái “nôi chèo”, “đất chèo". Đặc biệt nghệ thuật múa rối nước ở xã Đông Các, huyện Đông Hưng, ra đời cho đến nay hơn 10 thế kỷ, đã được ghi nhận là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, một sáng tạo đặc biệt của người Việt.

Chùa Keo - một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi, một trong 10 kiến trúc cổ nhất Việt Nam và là một trong 3 ngôi chùa đặc biệt nhất Việt Nam. Chùa còn lưu giữ khá đầy đủ những di vật cổ, trong đó có hàng trăm pho tượng cổ thời Lê và nhiều bức trạm, bức khắc...

Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thế kỷ 17, cao 11,04m và có 3 tầng mái. Tầng 1 có treo 1 khánh đá dài 1,87m, tầng hai có quả chuông đúc năm 1686, tầng 3 và tầng thượng có chuông đúc.

Khu di tích đền Trần là một quần thể di tích gồm các đền thờ, lăng mộ thờ các vị vua, quan nhà Trần thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện Hưng Hà. Lễ hội đền Trần diễn ra từ ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch hàng năm với nhiều hoạt động phong phú: thi cỗ cá, thi gói bánh chưng, thi thả diều, thi pháo đất, thi vật cầu, thi kéo co.

< Đền Đồng Bằng.

Đền Tiên La, nơi thờ Bát Nàn Tướng quân Vũ Thị Thục (thường gọi là Thục Nương - danh tướng triều Hai Bà Trưng), tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng (huyện Hưng Hà). Lễ hội đền Tiên La diễn ra vào trung tuần tháng Ba hàng năm.

Đền Đồng Bằng tọa lạc tại xã An Lễ - Quỳnh Phụ, nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, người có công lớn trong việc bình thục giữ nước và chiêu dân lập ấp xây dựng giang sơn xã tắc từ buổi sơ khai. Hội đền Đồng Bằng là một hội tứ phủ lớn trong vùng. Đây là dịp tập hợp lớn nhất các ông đồng, bà cốt từ khắp mọi miền, kéo dài từ ngày 20 đến 26 tháng 8 Âm lịch.

< Cồn Vành.

Thái Bình còn có bãi biển Đồng Châu, các đảo cồn Vành, cồn Thủ và làng vườn Bách Thuận bốn mùa ngát thơm hoa trái. Cồn Đen còn được xưng tụng là cồn biển đẹp nhất miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt vào những ngày cuối năm, mùa hoa cải bắt đầu nở rộ. Nhiều cánh đồng hoa cải trổ vàng, trải dài, ươm màu rực rỡ hòa với màu của lúa, ngô...làm cho tiết trời đông trở nên ấm áp, tinh khôi lạ thường.

< Bánh cáy.

Đến Thái Bình, du khách không thể nào quên được hương vị đặc sắc của những đặc sản đã làm nên thương hiệu nơi đây đó là bánh cáy, canh cá, bánh giò Bến Hiệp, ổi Bo...

Bánh cáy làm từ nếp cái hoa vàng (còn gọi là nếp quít), đường kính, nha, mỡ lợn, dừa, gấc, lạc, vừng... Ai đã thưởng thức bánh cáy cùng với chén trà nóng ướp hoa ngâu hay hoa nhài thơm ngát đều khó có thể quên được dư vị ngọt mát của đường pha chút cay dịu của gừng và ngầy ngậy của lạc, vừng...

< Canh cá Quỳnh Côi.

Còn bánh giò Bến Hiệp (Quỳnh Phụ) cũng không thua gì bánh cáy làng Nguyễn, bánh gai Vũ Thư, bánh bèo Thái Thụy, bánh đúc làng Tè. Hay món canh cá Quỳnh Côi cũng hết sức đặc sắc, món ăn này gọi là canh cá, nhưng không phải là cá nấu chua mà là một món ăn điểm tâm như phở hay mì.

Khi ăn thấy vị ngọt của cá, cái mát thanh thanh của rau tươi, của bánh đa làm từ gạo; vị ngon của những miếng cá chiên cùng vị bùi của rau thì là và vị thơm của gừng tươi tạo nên hương vị rất độc đáo.

Du khách cũng đừng quên thưởng thức trái ổi Bo Thái Bình, không bị hoà trộn với bất cứ loại ổi nào, dường như trái ổi đã hội tụ tất cả những gì tinh tuý nhất của đồng đất và con người Thái Bình. Những ai đã từng một lần thưởng thức ổi Bo hẳn sẽ rất ấn tượng với cùi dầy, ít hạt, giòn và vị thơm ngọt man mát.

Trước khung cảnh yên bình, gần gũi cộng với những món đặc sản có một không hai, du khách như hiểu vì sao có câu hát: “Thái Bình ơi, sao mà yêu đến thế...”.

Theo Thu Hà (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!

Khoai lang ba khía miền Tây

(DVO) - Khoai lang là một loài cây trồng quen thuộc ở Việt Nam nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng. Trong vườn nhà hay ngoài ruộng gò sau khi thu hoạch lúa xong, người nông dân tận dụng đất trồng khoai.

Đọt và lá non được dùng như rau xanh trong bữa ăn thường ngày. Đọt lang có thể để sống ăn với cá lóc nướng trui, chuột khìa hay chấm mắm kho, … Không ăn sống thì đem luộc chấm với mắm chua cay, cá kho ăn cũng rất bắt cơm.
Củ là bộ rễ phình to của loại cây dạng dây leo, có các lá mọc so le hình tim này. Khoai lang trồng bằng cách giâm dây. Chừng vài tháng sau khi trồng, theo kinh nghiệm dân gian hễ thấy lá ở gốc xuống màu là khoai đã ra củ. Củ khoai lang đào về để nơi góc nhà, góc chái chừng mười ngày cho khoai lợi bột ăn mới ngọt, mới bùi.

Cứ mỗi buổi chiều hè, khi nồi cơm cạn nước, than hồng còn rực lửa, đem mấy củ khoai bỏ vô nướng, dân gian gọi là lùi tro. Vỏ khoai cháy sém, khoai chín, cạo vỏ ăn rất thơm và ngọt.

Cầu kỳ hơn thì đem khoai ngâm nước rửa sạch rồi bắt lên nổi nấu. Để lượng nước vừa phải, nấu nồi đất, nước cạn, chờ thêm chút nữa, cho khoai khét một ít bên ngoài vỏ để có mùi thơm mới nhắc nồi xuống. Sẵn than, bỏ vô chén nướng sơ ít hột muối. Muối nổ thì thổi sạch than, đem đâm nát rồi chế mỡ heo đã thắng vô, để chảo muối mỡ lên bếp cho nóng. Khoai lột vỏ chấm hỗn hợp ấy ăn thay cả cơm mà không thấy đói.

Dân gian còn sáng tạo bằng cách ăn khoai lang nấu với mắm sống, bần chua. Lấy mắm cá chốt từ hủ, khạp ra, để nguyên con, tay cầm củ khoai, tay cầm mắm vừa ăn vừa xé, thêm ít bần chua nữa thì rượu đế cũng khó làm say được người thưởng thức.

Những có lẽ thú vị nhất là khoai lang nấu ăn với ba khía trộn chua ngọt. Khá giống cua đồng, ba khía có đôi càng màu đỏ nâu, lườn bụng đỏ nhạt, có tám ngoe, càng và ngoe dẹp, phần dưới có lông lấm thấm, vỏ mỏng, mỗi con ba khía thường nặng chỉ năm ba gam. Vì trên mu có ba lằn gạch nên nó được gọi là ... ba khía.

Trái mắm, trái cóc là nguồn thức ăn chính của loài ba khía, vì vậy nơi nào có hai loại cây này mọc là ba khía hội tụ. Theo dân gian miệt này thì ba khía ngon nhất là ba khía Rạch Gốc. Bởi vì Rạch Gốc (Cà Mau) là vùng ven biển, rừng mắm bạt ngàn, loại mắm trắng là nguồn thức ăn mà con ba khía ưa nhất, ba khía ăn trái mắm trắng là loại nhỏ con, gạch son, vỏ mềm, thịt ngọt.

Từ tháng Tư, tháng Năm âm lịch, mùa sa mưa đến, cây mắm, cây cóc ra trái, ba khía bắt đầu có nguồn thức ăn, chuẩn bị lột vỏ. Chúng bám đầy thân cây mắm, cây cóc, bò lềnh khênh trên bãi bùn ven bờ rạch.

Để bắt ba khía người ta thường đi bằng xuồng, đèn đốt sáng. Chỉ cần cho xuồng sà vào những gốc đước, gốc mắm vuốt nhẹ những con ba khía còn đang say sưa tình tự, cho vào khạp đặt sẵn trên khoang, là xong. Nhưng có lẽ độ đáo nhất là ba đêm hội ba khía diễn ra vào tháng Mười âm lịch hàng năm. Theo kinh nghiệm dân gian trong ba đêm này hàng trăm ngàn con ba khía kéo nhau kiếm bạn tình để sinh sản. Ba khía cái dưới bụng mang đầy trứng.

Có những thân cây ba khía bám dày không còn chỗ trống, lúc ấy chỉ có cắm đuốc xuống bùn để dùng cả hai tay hốt thật nhanh cho vô giỏ chứ không phải lượm từng con như những đêm khác. Đến đây, người viết chợt nghĩ không biết có phải vì quá hiểu đặc tính này của loài vật mà nhiều người bình dân ở các vùng lân cận thường hay về đây... bắt ba khía làm mắm, kiếm thêm miếng ăn:

Con ơi! Đừng khóc đừng la
Má đi mần mắm tháng ba má về - Ca dao

Xuồng bắt ba khía thường chở theo những cái khạp da bò có pha sẵn nước muối. Thử độ mặn của muối bằng cách thả hột cơm nguội vào, hột cơm nổi lên trên mặt nước là được.

Ba khía rửa sạch bùn, cát, rồi cho vào khạp, khi đầy khạp, người ta lấy lá dừa nước phủ lên, dùng cây chèn kín trên miệng. Độ ba hôm thì giở khạp ra, phân loại và sắp xếp lại. Ba khía ốp (không chắc thịt) có thể ăn ngay, loại chắc thịt xếp riêng một khạp. Sau đó, đổ nước muối ngâm lần đầu vào ngâm tiếp. Độ khoảng 5 – 7 ngày sau là ba khía có thể ăn được. Phần nước muối còn lại trong khạp là chất tinh túy nhất, dùng để nấu nước mắm tuyệt ngon!
Mắm ba khía tuy dễ làm như vậy, nhưng đôi khi do bảo quản không kỹ, bị nước mưa lọt vào, ba khía bị trở (tức là bị hư), có mùi hôi, phải bỏ đi.

Khi ăn, người ta thường rửa từng con bằng nước sôi ấm. Tách mai, càng, chân, yếm ra từng phần. Cho tỏi, ớt, đường, khóm bằm nhuyễn, hoặc vắt nước cốt chanh vào trộn đều. Lấy dĩa đậy lại khoảng vài giờ sau ba khía ngấm đều và dịu, ngon, ăn với cơm nguội sẽ ngon hơn. Ăn mắm ba khía đã ngon, trứng ba khía còn ngon hơn. Trứng ba khía có hai loại: loại màu đỏ và loại màu xám, ăn có vị béo, bùi đằm.

Chiều chiều cầm mấy củ khoai lang nấu nhấn nhá với ba khía, nghêu ngao câu ca:

Khoai lang nấu, khoai lang lùi
Thêm càng ba khía ngọt bùi thay cơm.
Thật đã đời lắm vậy!

Theo Hai Miệt Vườn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!

Ba khía, khoai lang nấu món ăn nhớ đời

Đình An Hải - Đà Nẵng

(ĐNO) - Đình Anh Hải tọa lạc tại phường An Hải Tây, quận Sơn Trà. Theo lưu truyền trong dân gian, người có công đầu trong việc khai phá, lập làng An Hải là một phụ nữ có tên gọi là Bà Thân.

Ngày nay, tại phường An Hải Tây, có một ngôi chợ người dân quen gọi là chợ Bà Thân ( hoặc Hà Thân ). Bà là một lưu dân từ phía Bắc vào lập làng từ thời vua Lê Thánh Tông. Ban đầu có 6 tộc gọi là lục tộc tiền hiền, gồm: Trần, Lê, Nguyễn, Đỗ, Ngô, Huỳnh.Về sau thêm nhiều tộc họ nữa như: Phạm, Phan, Hà, Đặng…
An Hải là mảnh đất đã sản sinh ra một nhân vật lịch sử nổi tiếng, một khai quốc công thần triều Nguyễn, đó là Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1761- 1829). Và chính ông đã có công lớn trong việc xây dựng, trùng tu tôn tạo các cơ sở tín ngưỡng của làng An Hải.

Tương truyền, nhân dân An Hải đã dựng đình làng từ rất sớm, trước thời kỳ nhà Nguyễn (1802), theo dạng ba gian hai chái, kết cấu vì kèo, mái lợp tranh, vách gỗ trải qua thời gian, ngôi đình đã xuống cấp, vào năm 1827, Thoại Ngọc Hầu đã có chuyến về thăm quê hương An Hải.

Thể theo mong muốn của dân làng nông đã họp hương chức trong làng để bàn việc xây dựng, tôn tạo các cơ sở tín ngưỡng trong đó có ngôi  đình làng. Bia ký công của làng An Hải được lập vào năm Quý Sửu (1853) ghi công đức của Thoại Ngọc Hầu và 15 người dân trong làng đã đóng góp gạch ngói, tiền bạc, đất đai vào việc xây dựng đình chùa.

Đình An Hải được kiến trúc theo dạng ba gian hai chái, tường xây mái lợp ngói, có chính diện và hậu tẩm. Đình dài 12,95m, rộng 11,2m. Hậu tẩm xây theo dạng vòm cuốn dài 4,15m rộng 5,14m. Bên trong, đặt bàn thờ chính thờ thần.Trước cửa hậu tẩm có bức hoành lớn Chính điện có ba hàng cột vuông bằng gỗ mít, mỗi hàng 8 cột. Hai bên tả, hữu đặt hai ban thờ tiền hiền và hậu hiền, có đôi câu đối bẵng chữ Hán..Trong lịch sử tồn tại, đình An Hải là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử và là cơ sở cách mạng của địa phương trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, đình làng An Hải là nơi quy tụ các lực lượng yêu nước, các tổ chức Đảng, Đoàn hội họp và huấn luyện chiến đấu, là điểm tập trung xuất phát tiến hành đấu tranh giành chính quyền tại xã An Hải, đồng thời là nơi lập chính quyền cách mạng khu Đông. Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đình An Hải trở thành địa điểm hoạt động của cơ sở cách mạng, là nơi cất giấu vũ khí; dùng cây đa trước ddinhf là đài quan sát theo dõi tình hình địch trong các trận càn, đặc biệt, luôn theo dõi hoạt động của giặc Pháp trong đồn Thông Mười (cách đình 300m về hướng Bắc) để từ đó tổ chức những lần xuất kích chống càn và tiêu diệt địch.

Trong kháng chiến chống Mỹ, đình An Hải là nơi hoạt động bí mật của cán bộ cách mạng, là điểm xuất phát để thực hiện treo băng, cắm cờ đỏ sao vàng trong những ngày lễ lớn. Trong Tổng tiến công Mậu Thân (1968) và chiến dịch xuân 1975, các lực lượng vũ trang cách mạng đã dùng đình làng để thành lập các bộ phận thông tin tuyên truyền, để kịp thời thông báo và kêu gọi lực lượng địch bỏ hàng ngũ ra đầu hàng chính quyền cách mạng.

Trong quá khứ và đến hôm nay, hằng năm nhân dân An Hải đều tổ chức lễ hội tại đình làng trong đó có nhiều trò chơi, các diễn xướng dân gian mang sắc thái địa phương,thu hútmọi tầng lớp người dân tham gia. Các ngày lễ chủ yếu (theo âm lịch) là :

- Ngày 02 tháng 3 giỗ tiền hiền.
- Ngày 10 tháng 3, tế Xuân cầu an, tổ chức tại đình và các miếu xóm trong làng.
- Ngày 6 tháng 6, giỗ hậu hiền, đồng thời kỷ niệm ngày mất danh nhân Toại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại.
- Ngày 10 tháng 8, tế thu cầu an tưởng nhớ anh hùng liệt sĩ.

Hiện nay, đình An Hải còn lưu được bốn sắc phong do các vua triều Nguyễn ban tặng:

1 - Sắc năm Tự Đức thứ 30 (1877)
2 - Sắc năm Đồng Khánh thứ 2 (1886)
1 - Sắc năm Duy Tân nguyên niên (1907)

Đình An Hải được công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá cấp thành phố ngày 30/8/2006.

Theo Đà Nẵng.gov
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Kỳ bí lá cỏ đá của người Ca Dong

(QNO) - cộng đồng người dân tộc Ca Dong tại huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) trong các lễ hội, cúng tế, cưới xin đều không thể thiếu một loại lá được người dân cho là rất linh thiêng dùng để cúng phép: lá cỏ đá.

< Già làng đang dùng lá cỏ đá để cúng phép cầu sức khỏe cho dân làng.

Lễ vật cúng phép

Trong một lần đến vùng cao xã Trà Đốc (huyện Bắc Trà My), chúng tôi có dịp tham gia lễ đâm trâu của người Ca Dong. Lễ đâm trâu thì chúng tôi đã gặp nhiều ở các cộng đồng người dân tộc khác như Cơ Tu, Ve, Tà Riềng. Tuy nhiên, có một điều khá thú vị làm chúng tôi không khỏi ngạc nhiên đó là trong suốt quá trình diễn ra lễ hội, người Ca Dong đều dùng một thứ lá cây rất lạ để cúng phép, làm lễ. Hỏi ra mới biết, thứ lá đó có tên gọi là “cỏ đá”.

“Lá cỏ đá linh thiêng lắm! Ông bà từ xưa lúc mới lập làng, lập bản đã dùng lá cỏ đá để cúng phép rồi. Lá cỏ đá là vật phẩm người dân dùng để cúng trâu, làm phép cho con cháu, dân làng được khỏe mạnh” - già làng Đinh Văn Xếc (80 tuổi, ở thôn 5) nói.

Nhìn bên ngoài, lá cỏ đá có hình dạng rất giống với cây dương xỉ. Lá nhọn, có màu xanh, mép lá hình răng cưa, mọc ra nhiều nhánh và có mùi thơm rất dễ chịu. Theo lời người dân, cỏ đá thường mọc ven suối. Khi làng hoặc một gia đình có đám, lễ gì, người đàn ông trong gia đình sẽ ra ngoài bờ suối hái lá về làm vật phẩm để cúng phép.

Ông Nguyễn Văn Tiến - Trưởng thôn 5, xã Trà Đốc, cho biết tất cả đám tiệc, lễ đâm trâu, cưới hỏi… luôn có sự hiện diện của lá cỏ đá. Lá cỏ đá, cùng với rượu cần, rượu nếp, như một vật phẩm không thể thiếu để cúng ông bà, cúng thần linh, ma lúa, cầu cho dân làng được khỏe mạnh, mùa màng bội thu, thôn xóm yên ấm. Việc dùng lá cỏ đá để cúng phép của người Ca Dong được truyền từ đời này sang đời khác và cứ thế tiếp diễn.

“Tục đâm trâu cúng ma lúa và dùng lá cỏ đá để cúng phép chỉ còn ở các xã Trà Đốc, Trà Bui, Trà Tân và được đồng bào Ca Dong gìn giữ. Lá cỏ đá là vật thiêng được dân làng dùng để cúng phép trong các dịp lễ đâm trâu, cưới hỏi, ma chay, mừng nhà mới…
Đây là nét văn hóa đặc sắc truyền thống của người Ca Dong có từ rất lâu đời, cần được trân trọng, gìn giữ” - ông Hồ Văn Lợi, Chủ tịch UBND xã Trà Đốc nói.


< Phụ nữ Ca Dong mang gùi lá cỏ đá nhảy múa trong lễ đâm trâu.

Trong lễ đâm trâu của người Ca Dong, suốt mấy ngày diễn ra lễ, dân làng đi hái lá cỏ đá về chất quanh cột trâu. Việc cúng tế diễn ra trong nhiều ngày liên tục rồi mới đến nghi lễ đâm trâu. Khi cúng trâu, già làng sẽ cầm chùm lá cỏ đá trên tay để làm phép, lẩm nhẩm trong miệng điều gì đó trước mũi con trâu. Sau đó, già làng cầm chùm lá cỏ đá nhúng vào bát rượu nếp, vẩy lên đầu trâu.

Ngoài ra, trong lễ đâm trâu, lá cỏ đá còn được dùng để làm phép cầu an cho dân làng. Già làng sẽ cầm chùm lá cỏ đá và lẩm nhẩm trong miệng những bài cúng làm phép cho từng người dân trong làng, đến lượt người nào, người đó sẽ nắm tay vào chùm lá cỏ đá.

Thứ lá linh thiêng

Sau khi dùng lá cỏ đá để cúng phép cho từng người, già làng sẽ phân phát từng chùm lá cỏ đá cho mỗi người trong làng. Từng người một quấn chùm lá trên đầu hoặc lưng quần. Mỗi người sẽ giữ lá cỏ đá bên mình trong suốt quá trình diễn ra lễ hội đâm trâu, mà theo họ là giữ sự may mắn cho suốt cả một năm. Từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, ai cũng sở hữu chùm lá cỏ đá như một vật trang trí, tô đẹp thêm bức tranh lễ hội.

Trong một nghi lễ khác ở lễ hội đâm trâu của người Ca Dong là tục khóc trâu cũng không thể thiếu lá cỏ đá. Khi con trâu được cột mũi tại trụ, những già làng lớn tuổi, hoặc trung niên sẽ nối vòng tròn đi quanh trâu, sờ đầu trâu, đuôi trâu, mình trâu và hát những bài hát bằng tiếng Ca Dong. Trên đầu, trên lưng của họ luôn cột thêm chùm lá cỏ đá.

Già làng Xếc kể, những bài hát khóc trâu thường có ý nghĩa kể về tiểu sử ma lúa, những lời chúc làm ăn phát lộc, người dân làng đừng có đau ốm, con cháu được khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Kiểu khóc trâu của người Ca Dong thường được hát theo lối đối đáp, một người hỏi, người kia sẽ trả lời.

Ngoài ra, trước khi đâm trâu, người phụ nữ lớn tuổi nhất bản sẽ mang một gùi lá cỏ đá cùng với những phụ nữ Ca Dong khác múa những điệu múa truyền thống quanh con trâu. Hỏi ra mới biết, làm như vậy là để xua đi những điều xui xẻo, mong con trâu là vật phẩm sẽ đến với thần linh.

Ngoài dùng lá cỏ đá để cúng phép, người Ca Dong còn dùng lá cỏ đá treo thành từng chùm trên giàn bếp để làm bùa, trừ ma quỷ, đuổi cái xui. Đến nhiều ngôi nhà của bản làng người Ca Dong, chúng tôi nhìn thấy những chùm cỏ đá khô vắt trên giàn bếp.

Dân làng cho biết, sau mỗi lần cúng tế bằng lá cỏ đá, không ai được phép vứt lá cỏ đá đi mà phải mang về nhà, vắt lên giàn bếp.
“Nhà nào có càng nhiều chùm lá cỏ đá khô treo trên giàn bếp sẽ được thần linh phù hộ, mùa màng no đủ, con cái khỏe mạnh. Đây là thứ lá linh thiêng, cúng xong không thể đem vứt đi được đâu, sẽ bị thần linh quở phạt đó!” - già làng Đinh Văn Xếc nói.

Theo VÕ LÊ (Quảng Nam Online)
Du lịch, GO!

Ba Khan đẹp như thiên đường

Ba Khan là một xã thuộc huyện Mai Châu (Hòa Bình) nằm ven con sông Đà hùng vĩ. Xã Ba Khan có diện tích 20,39 km², dân số năm 1999 là 1206 người, mật độ dân số đạt 59 người/km².

Trong khuôn khổ dự án Giảm nghèo giai đoạn 2 từ năm 2012, Ba Khan là một trong những xã có số lượng các tiểu dự án được thực hiện đa dạng nhất. Cùng với 3 tiểu dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng thôn bản, có 18 tiểu dự án mô hình sinh kế người nghèo, sinh kế phụ nữ được triển khai.

Trước khi chưa có con đường bê tông phẳng mịn được đầu tư xây dựng từ dự án, các đường nhánh từ trung tâm xóm Khan Hò đến khu sản xuất Thung Quốc hay đường liên thôn từ xóm Khan Thượng của xã Ba Khan đến khu Nà Bang của xóm Khiềng, xã Phú Cường (Tân Lạc) vốn là đường mòn, quanh năm bùn đất lầy lội.

< Thác nước hùng vĩ ngay bên đường đi Ba Khan.

Từ kinh phí hợp phần ngân sách phát triển xã, thể theo nguyện vọng của đông đảo người dân, tiểu dự án đường giao thông đã được thực hiện thỏa lòng mong đợi của cộng đồng.

Đồng loạt thi công vào đầu tháng 10, đến nay, 3/3 tiểu dự án đã hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng. Từ khi có các tuyến đường, đời sống dân sinh được cải thiện, vấn đề giao lưu hàng hóa, phục vụ yêu cầu sản xuất, đi lại so với trước thuận tiện hơn nhiều.

< Thác nước đẹp như tranh đổ xuống hồ nhỏ bên dưới.

Mô hình khoai lang ở Ba Khan được phổ biến và nhân rộng. Hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia mô hình sản xuất được hỗ trợ cây giống, con giống như khoai lang, lạc, gừng, bò, lợn... phấn khởi bởi kết quả đạt được rất khả quan.

Hiệu quả kinh tế từ mô hình khoai lang là rõ nét nhất, năng suất củ đạt khoảng 15 – 17 tấn/ha. Dự án cũng đã hỗ trợ nông dân tham gia tiểu dự án trồng gừng thông qua kết nối với doanh nghiệp bao tiêu, thu mua sản phẩm gừng tươi. Các dự án thành công đã giúp thay đổi hẳn cuộc sống một vùng cao.

< Trên đường vào Ba Khan, chúng tôi như những chấm nhỏ bé...

< Những con đường xẻ núi, hai bên là vách đá dựng đứng.

< Những con đường uốn lượn quanh vách núi, ven sông Đà.

Ngày nay, bất kỳ ai khi đặt chân đến đây đều không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh đẹp non nước hữu tình như tranh vẽ.

< Nơi đây được ví như “Hạ Long trên cạn” với những núi đảo.

Đoạn đường từ Mai Châu đến Ba Khan tuy chỉ dài hơn 20km nhưng chạy qua rất nhiều cảnh đẹp.

< Sông Đà hùng vĩ với non xanh, nước biếc.

Những con đường mòn uốn mình bên dòng sông Đà được che mát bởi những rặng tre xanh rì rào, những con đường dốc ngược, xẻ núi chạy bên những vách đá dựng đứng hay những bản làng yên bình.

< Những hộ dân nuôi cá lồng trên trên sông Đà.

< Khung cảnh hữu tình khi hoàng hôn xuống.

Trên đường bạn có thể ngắm một phần hồ sông Hòa Bình với non xanh nước biếc, những ốc đảo thanh bình.

Đến Ba Khan một lần để cùng hòa mình với thiên nhiên, cảm nhận được không khí trong lành nơi đây.

Du lịch, GO! ảnh Ngo Huy Hoa, Hachi - iHay.Thanhnien

Cơm tấm nhuyễn miền Tây

Một anh bạn gốc miền Tây Nam Bộ của tôi có lần 'phán' rằng ăn cơm tấm ở Sài Gòn 'thấy mà chán'. Anh nói: "Ăn cơm tấm ở Sài Gòn chán...

... Gọi là cơm tấm nhưng nhìn hạt cơm quá to giống như hạt gạo gãy đôi, gãy ba chứ không phải hạt tấm. Ở Sài Gòn cơm tấm có thể ngon nhờ thịt thà gia vị đậm đà nhưng có tìm khắp cả thành phố này cũng chẳng ở đâu ra cái hương vị cơm tấm ở quê mình”.

Nghe người từng trải nói thì biết vậy chứ thật ra không chỉ ở Sài Gòn mà ngay cả các tỉnh miền Tây ngày nay người ta cũng toàn bán cơm tấm loại hạt to. Rồi có một lần tình cờ tôi may mắn được thưởng thức món cơm tấm đúng chất miền Tây. Đó là lần tôi đi công tác ở An Giang.

Buổi tối, anh bạn "thổ địa" dẫn tôi đi làm vài ba chai bia cho “mát ruột” để ngủ ngon rồi đưa về khách sạn. Khi tạm biệt anh không quên rỉ tai: “Sáng mai đừng ăn sáng ở khách sạn. Tui sẽ tới dẫn ông đi ăn đặc sản xứ này”.

Đúng hẹn, anh tới chở tôi đến một quán nhỏ ở góc đường cũng nhỏ mà người dân địa phương gọi là Đèn Bốn Ngọn. Gọi là quán nghe cho sang chứ thật ra chỉ là một cái xe di động nho nhỏ với mấy cái bàn ghế cũ bày trên vỉa hè. “Vào đây. Ăn thử món này đi, ngon lắm”, anh bạn hớn hở thúc giục.

Bà chủ quán mang ra hai đĩa cơm trông rất lạ mắt. Đặc biệt là hạt cơm nấu xong chỉ to bằng đầu cây chân nhang. Có lẽ vì là món cơm tấm nhuyễn nên mọi thứ ăn kèm đều theo kiểu be bé, xinh xinh. Miếng thịt sườn cũng là loạt sườn mỏng cắt thành sợ nhỏ chứ không phải kiểu miếng sườn to bằng nửa cái đĩa.

Cọng bì cũng nhỏ nhỏ, ngắn ngắn chứ không dài cả gang tay như món bì ở các quán cơm tấm mà chúng ta từng biết. Còn có cả món trứng kho, nhưng chỉ có nửa cái và cắt làm bốn theo chiều dọc của quả trứng. Mấy cọng đồ chua cũng đúng gu nho nhỏ như thế.

Người ăn chỉ việc chan thêm một ít nước mắm tỏi ớt vào và trộn đều lại mà thưởng thức. “Ông có thấy cái cảm giác hạt cơm như giòn tan trong miệng? Vị thơm ngọt của những hạt cơm bé li ti cũng thật đặc biệt đúng không?”, anh bạn người địa phương vừa ăn vừa xuýt xoa.

Anh bảo: "Một tuần thì tôi đã ăn sáng với món này cũng phải tới 3 - 4 lần. Đây là món cơm tấm miền Tây chính hiệu đó nghen". Tôi nhẹ nhàng nếm thử cái món ăn khoái khẩu của anh và cũng lờ mờ cảm nhận được cái hương vị đặc biệt của nó.

Anh cũng không quên giới thiệu sơ lược về kỹ thuật đặc biệt để nấu món này. Vì nó nhuyễn như vậy nên không thể nấu theo cách thông thường mà người ta phải dùng cách xới cơm, dùng hơi nước để làm chín. Chính vì vậy mà cơm không bao giờ bị nhão, khê – thứ tối kị của món cơm tấm. Cơm chính nhờ hơi nước nên giữ nguyên được chất lượng thơm ngon của gạo.
Câu chuyện về món cơm tấm nhuyễn cứ thế kéo dài đến suốt buổi...

Theo Chí Nhân (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Chống ù, đau tai khi đi máy bay

(DTO) - Khi máy bay hạ canh hay cất cánh là lúc áp suất không khí tăng cao, lúc này nhiều người sẽ có cảm giác ù tai, đau tai. Ngáp, nuốt nước bọt hay ăn kẹo cao su… là những cách giảm đơn giản giúp giảm đi cảm giác đó.

Theo như các chuyên gia cho biết ù tai, thậm chí đau tai dữ dội, là triệu chứng khá phổ biến ở những người đi máy bay, xuất hiện do sự thay đổi áp lực của không khí, đặc biệt là khi máy bay cất cánh, hạ cánh.

Máy bay càng lên cao và càng lao xuống nhanh, sự thay đổi càng đột ngột càng dễ gây ra chấn thương tai do áp lực. Điều đó làm mất cân bằng áp suất hai bên màng nhĩ, khiến màng nhĩ bị phồng lên hay kéo giật về sau, làm cho tai của chúng ta rất ù và rất đau.

Để không bị ù tai, đau tai khi đi máy bay, về nguyên tắc cần hạn chế sức ép của không khí, áp suất đối khoang tai giữa, giúp cho vòi nhĩ luôn luôn đóng mở, góp phần cân bằng áp lực giữa tai giữa và không khí bên ngoài. Để làm được điều này, bạn có thể thực hiện theo một số lời khuyên hữu ích sau:

- Nuốt nước bọt liên tục.
- Nhai kẹo cao su cũng giúp bạn nốt nước bọt nhiều hơn.

- Uống nhiều ngụm nước nhỏ. Cách này chỉ nên sử dụng khi nào máy bay bắt đầu cất cánh hay hạ cánh.

- Dùng bông nút hai lỗ tai.
- Có thể dùng tinh dầu thơm để ngửi.

- Đừng ngủ trong khi máy bay đáp xuống, bạn cần nuốt nước bọt nhiều lần trong lúc này để tai được thông.

- Ngáp cũng là biện pháp hữu hiệu giúp giảm đau tai, trong trường hợp việc ngáp và nuốt nước bọt không đem lại hiệu quả, bạn có thể tiến hành các bước sau.

- Bước 1: Bịt chặt hai lỗ mũi lại.
- Bước 2: Hít không khí đầy mồm.

- Bước 3: Dùng cơ má và họng đẩy mạnh không khí vào phần sau của mũi, cứ như bạn đang cố gắng đẩy bật hai ngón tay đang bịt vào mũi. Không nên thổi quá mạnh, chỉ thổi bằng má, cơ má và họng.

Những động tác này giúp bạn cân bằng hai bên màng nhĩ và không còn cảm giác ù tai, đau tai để thích ứng được với áp suất tức thời đó.

Đối với trẻ em, khi không chủ động ngáp liên tục hoặc không biết cách thở bằng lỗ tai. Chính vì vậy, bạn nên có một vài “chiêu” nhỏ để giúp bé không cảm thấy ù tai hay đau tai.

Bạn nên cho bé nhai kẹo hay cho bé bú bình và không cho phép bé ngủ vào lúc máy bay hạ cánh. Trong trường hợp có nhiều thời gian, bạn có thể mang theo một quả bóng bay để cho bé thổi hay đơn giản hơn là bạn có thể lấy túi nôn trên máy bay để thổi. Khi mà bé làm những động tác như vậy, quay hàm của bé sẽ mở rộng hơn, lúc này cột không khí thông giữa mũi và miệng sẽ tràn vào trong khoang giữa làm cân bằng áp suất trong màng nhĩ.
Với những “chiêu” nhỏ trên chắc chắn sẽ giúp bạn loại bỏ đi cảm giác ù tai và đau tai khi đi máy bay, lúc này đảm bảo bạn sẽ có một thể trạng tốt cho chuyến du lịch tuyệt vời của mình.

Theo Nhữ Trang (Dân Trí)
Du lịch, GO!